Chương I: Những vấn đề chung về trách nhiệm sản phẩm và quy định của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm Chương II: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam và tình hình thực thi trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp Chương III: Hoàn thiện pháp luật hiện hành về trách nhiệm sản phẩm và khuyến nghị đối với doanh nghiệp Việt Nam 6 CHƢƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM 1.1 Khái quát về trách nhiệm sản phẩm 1.1 K á n ệm sản p ẩm Theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000:2000 thì “sản phẩm” là kết quả của một quá trình tập hợp các hoạt động có liên quan lẫn nhau hoặc tương tác (với nhau) để biến đổi đầu vào (input) và đầu ra (output). Dưới giác độ Marketing thì sản phẩm là thứ có khả năng thỏa mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng. Sản phẩm không nhất thiết phải được tạo ra bởi con người, nhưng nó cần phải có lợi ích nào đó với con người.
Xét về khía cạnh đó, sản phẩm có thể tồn tại dưới dạng hữu hình (sản phẩm vật chất), hoặc vô hình (dịch vụ). Sản phẩm hữu hình là những sản phẩm tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể, có những đặc tính vật lý, hóa học, sinh học. Có thể cảm nhận các sản phẩm hữu hình dưới các góc độ như nhìn thấy, sờ, cân, đo, đong, đếm và kiểm tra chất lượng bằng phương tiện hóa, lý. Sản phẩm vô hình hay còn gọi là dịch vụ, là kết quả của các quá trình lao động, hoạt động kinh tế hữu ích.
Cũng giống như sản phẩm hữu hình, dịch vụ được tạo ra là để đáp ứng nhu cầu của con người, tuy nhiên do không tồn tại dưới hình thái vật chất cụ thể nên dịch vụ chỉ có thể được cảm nhận khi con người sử dụng nó mà thôi. Trong thực tế thì có sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình, có sản phẩm thiên về dịch vụ và rất nhiều sản phẩm là sự kết hợp của cả hai loại trên. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, sản phẩm là kết quả của các hoạt động, các quá trình bao gồm phần mềm, phần cứng và vật liệu để chế biến hoặc đã được chế biến. Khoản 1, Điều 3 Nghị định 179/2004/NĐ-CP ngày 21-10-2004 của Chính phủ về quy định quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, theo đó 7 Sản phẩm là kết quả của các hoạt động, các quá trình, bao gồm dịch vụ, phần mềm, phần cứng và vật liệu để chế biến hoặc đã được chế biến.
Hàng hoá là sản phẩm được đưa vào tiêu dùng thông qua trao đổi, buôn bán. Theo Chỉ thị 34/1999 về trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu EU thì sản phẩm là mọi động sản kể cả động sản sáp nhập trong động sản hoặc bất động sản khác, sản phẩm bao gồm cả điện1. Trong khi đó, Luật Bồi thường thiệt hại bản sửa đổi lần thứ 3 (Restatements 3rd Torts”) năm 1997 của Hoa Kỳ định nghĩa sản phẩm là những tài sản cá nhân hữu hình, bao gồm cả nguyên liệu chưa qua chế biến. Như vậy, quy định của pháp luật Hoa Kỳ không quan tâm tới quá trình tạo ra sản phẩm mà chỉ xem xét sản phẩm trên khía cạnh hình thái vật chất và chủ thể sở hữu sản phẩm.
Dưới giác độ của trách nhiệm sản phẩm thì sản phẩm bao gồm những động sản được sản xuất hoặc chế biến2, nó không phụ thuộc vào việc sản xuất theo dây chuyền công nghiệp với quy mô lớn hay sản xuất thủ công những sản phẩm riêng lẻ, Tăng Văn Nghĩa (2008, tr. Cách hiểu này tương đồng với quy định của pháp luật ở nhiều nước về sản phẩm đồng thời mang tính chất đặc thù của pháp luật trách nhiệm sản phẩm. Bên cạnh đó, như đã phân tích, trong pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của một số quốc gia còn mở rộng khái niệm sản phẩm đối với các dịch vụ. K á n ệm uy t tật sản p ẩm Về cơ bản, sản phẩm có khuyết tật là sản phẩm không đáp ứng được mục đích sử dụng của người mua hoặc người sử dụng có liên quan.
Từ điển Thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt định nghĩa sản phẩm có khuyết tật là động sản không bảo đảm sự an toàn mà người ta có thể trông đợi một cách chính đáng. Nếu khiếm khuyết của sản phẩm gây thiệt hại đến người hoặc tài sản khác thì người sản xuất, người phân phối, người bán hoặc người cho thuê sản phẩm đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Nhà Pháp luật Việt – Pháp (2005,tr. Định nghĩa của Luật BVQLNTD về hàng hóa có khuyết tật như sau: 1 Nguyên văn trích Luật trách nhiệm sản phẩm Nhật Bản số 85/1994: “the term “product” means movable property manufactured or processed”. 2 Theo Điều 2 điểm 2 Luật Trách nhiệm sản phẩm của Cộng hòa Liên bang Đức (Produkthaftungsgetz sửa đổi 2002).
8 Hàng hóa có khuyết tật là hàng hóa không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả trường hợp hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa được cung cấp cho người tiêu dùng, bao gồm: a) Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật; b) Hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ; c) Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho người tiêu dùng. Tại Việt Nam và trên thế giới, khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển và lưu trữ là loại khuyết tật dễ xảy ra. Các dạng khuyết tật này có thể diễn ra đối với mọi loại hàng hóa, từ hàng tiêu dùng cho đến những hàng hóa xa xỉ phẩm như ô tô, điện thoại, xe máy. Nhiều khuyết tật ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng hàng hóa của người tiêu dùng như các lỗi kỹ thuật liên quan đến phanh, dầu động cơ của xe máy, ô tô,.
Một số khuyết tật có thể không trực tiếp ảnh hưởng tới tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng nhưng có thể gây ra những tâm lý lo ngại cho người tiêu dùng, ví dụ như nước trà xanh hương chanh C2 và nước tăng lực Rồng Đỏ hương dâu có hàm lượng chì cao quá mức công bố trong thời gian vừa qua. Như vậy, quan điểm của pháp luật Việt Nam về hàng hóa có khuyết tật đã thể hiện nội dung cơ bản là hàng hóa không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng vì những lỗi như sau: Thứ nhất, khuyết tật do thiết kế (design defects): xảy ra khi sản phẩm được sản xuất theo đúng thiết kế, nhưng bản thân sản phẩm có những dấu hiệu có thể gây ra nguy hiểm bất hợp lý cho người sử dụng theo cách thức thông thường. Những khuyết tật này là do trong quá trình thiết kế, nhà thiết kế, nhà sản xuất đã không lường trước được những nguy hiểm trong quá trình thiết kế hoặc không đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện an toàn thông thường cho một thiết kế của sản phẩm. 9 Thứ hai, khuyết tật do sản xuất (manufacturing defects): Khuyết tật trong giai đoạn sản xuất sản phẩm xuất hiện khi mà thành phẩm không tuân theo thiết kế dự kiến hoặc quy cách phẩm chất của nhà sản xuất đề ra.
Sự khác nhau cơ bản giữa khuyết tật do sản xuất và khuyết tật do thiết kế là khuyết tật trong giai đoạn sản xuất sản phẩm xuất hiện khi thành phẩm không tuân theo dự kiến hoặc quy cách chất lượng mà nhà sản xuất đề ra. Ví dụ, khi sản xuất đã sử dụng vật liệu không đúng tiêu chuẩn. Trong khi đó, khuyết tật do thiết kế xảy ra khi sản phẩm được sản xuất theo đúng thiết kế, nhưng tự thân sản phẩm có những dấu hiệu có thể gây ra nguy hiểm bất hợp lý cho người sử dụng theo cách thức thông thường. Ví dụ, các tác dụng phụ của vắc – xin, các loại vải dễ gây cháy, thiết bị điện tử gây cháy nổ.
Thứ ba, khuyết tật do không cảnh báo sự nguy hiểm, không cảnh báo sự an toàn (warrant defects): khuyết tật này thường xuất hiện trong giai đoạn chào bán, đưa sản phẩm vào quá trình tiêu dùng. Theo đó người phân phối đã không cảnh báo đầy đủ cho người tiêu dùng về những nguy hiểm có thể xảy ra khi sử dụng sản phẩm. Loại khuyết tật này xảy ra phổ biến ở các loại dược phẩm, mỹ phẩm khi nhà sản xuất, nhà phân phối, người bán lẻ không chỉ dẫn cách sử dụng hoặc những tác động phụ của các loại sản phẩm trên. Hiện nay, trên thị trường, chúng ta có thể thấy rất nhiều cảnh báo và hướng dẫn ghi trên nhãn mác bao bì sản phẩm như: “Không sử dụng đối với phụ nữ đang mang thai và cho con bú”; “Để xa tầm tay trẻ em” hay “Hút thuốc lá có thể gây ung thư phổi”.
Do đó, nếu một sản phẩm có ẩn chứa những nguy cơ gây nguy hiểm mà được cảnh báo một cách thích hợp cho người sử dụng theo cách thức thông thường thì nhà sản xuất không phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do nguồn nguy hiểm đó gây ra cho người tiêu dùng, Tăng Văn Nghĩa (2008). Như vậy, khuyết tật của sản phẩm phải chứa đựng sự thiếu an toàn một cách bất hợp lý khi sử dụng và gây nguy hiểm quá mức với người tiêu dùng. Nên các sản phẩm như: thuốc gây tác dụng phụ, màn hình máy tính gây nhức mắt cho người xem sẽ không được coi là sản phẩm khuyết tật khi đó là những khuyết tật hợp lý trong điều kiện khoa học công nghệ hiện tại. Từ đó có thể thấy, một sản phẩm chứa đựng sự nguy hiểm là bản chất của sản phẩm, nó luôn tồn tại hợp lý trong cấu tạo sản phẩm, trong quá trình sử dụng sẽ không được coi là sản phẩm khuyết tật.
Ví dụ, 10 các sản phẩm sử dụng nguồn phóng xạ là sản phẩm chứa đựng nguy hiểm, tuy nhiên, bản thân sản phẩm này lại dược sử dụng để mang lại tính hữu ích cho con người, tính không an toàn, gây nên nguy hiểm của các sản phẩm này là do không được sử dịn đúng quy cách, quy trình, không đúng chức năng, mục đích.3 K á n ệm trác n ệm sản p ẩm 1.