Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI ĐỐI VỚI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 1.1 Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh 1.1 Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh Cạnh tranh là một trong những quy luật quan trọng của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh vừa là động lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế, đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng, người tiêu dùng và được Nhà nước bảo vệ. Hành vi cạnh tranh sẽ được coi là lành mạnh khi các doanh nghiệp cạnh tranh bằng những hình thức phù hợp với các quy định của pháp luật, cũng như phù hợp về các chuẩn mực, đạo đức kinh doanh thông thường. Tuy nhiên, cũng có những doanh nghiệp đã lựa chọn những cách thức và phương pháp kinh doanh trái pháp luật, tiến hành những hành vi cạnh tranh không lành mạnh đi ngược lại các nguyên tắc trung thực, thiện chí, hay những thông lệ, tập quán được chấp nhận và tồn tại lâu dài trong kinh doanh, nhằm tối ưu hóa lợi nhuận tạo ra lợi thế cạnh tranh bất chính cho mình.
Những hành vi đó nguy hại đối với môi trường cạnh tranh và luôn bị pháp luật cấm và kiểm soát nghiêm ngặt. Để đảm bảo cho hoạt động cạnh tranh được diễn ra một cách khách quan trên thị trường nhưng trong khuôn khổ pháp luật, Nhà nước chỉ tác động bằng các chính sách cạnh tranh cơ bản như: Các quy định về an toàn và sức khỏe; bảo vệ người tiêu dùng và chống cạnh tranh không công bằng, lừa dối hoặc thiếu đạo đức đối với người tiêu dùng; bảo vệ quyền cạnh tranh, chống các hoạt động độc quyền để đảm bảo sự cạnh tranh thực sự giữa các doanh nghiệp… Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Hiểu theo nghĩa rộng thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm tất cả các hành vi cạnh tranh bằng việc sử dụng các thủ đoạn bất chính 7 xâm hại tới các hoạt động cạnh tranh trên thị trường, xâm hại đến quyền tự do cạnh tranh một cách công bằng của các doanh nghiệp. Hiểu theo quan niệm này, các hành vi hạn chế cạnh tranh (Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường) cũng thuộc vào phạm trù “Cạnh tranh không lành mạnh”[16].
Công ước Paris 1883 về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Đây là một trong những Điều ước quốc tế sớm nhất có quy định về việc chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh) có quy định: “Bất cứ hành vi cạnh tranh nào trái với hoạt động thực tiễn trung thực, thiện chí trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh” (Điều 10Bis – Được bổ sung vào Công ước từ năm 1900 và được sửa đổi lần cuối theo văn bản Stockholm năm 1967). Như vậy, tiêu chí đánh giá tính lành mạnh hay không lành mạnh của Công ước về hành vi cạnh tranh là “hoạt động thực tiễn trung thực, thiện chí”. Đó là một tiêu chí khó định lượng và có thể thay đổi, ở mỗi quốc gia do có những sự khác biệt phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia đó. Sự không rõ ràng trong việc xác định phạm vi cạnh tranh không lành mạnh tiếp tục được thể hiện trong pháp luật nhiều nước, như tại Bỉ và Luxembourg tiêu chí đó là “thông lệ thương mại trung thực”; tại Tây Ban Nha và Thụy Sĩ lại là “nguyên tắc ngay tình”; tại Italia là “tính chuyên nghiệp đúng đắn”; tại Đức, Hy Lạp và Ba Lan thì là “đạo đức kinh doanh”.
Còn tại Hoa Kỳ do thiếu định nghĩa trong các văn bản pháp luật, các Tòa án đã xác định từ nguồn án lệ xác định cạnh tranh lành mạnh là “các nguyên tắc giải quyết trung thực và công bằng” hoặc “đạo đức thị trường”. Theo Luật Cạnh tranh Việt Nam, hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm: “các hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp 8 pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” (Điều 3 Khoản 4). Điều 39 Luật Cạnh tranh Việt Nam quy định rõ một số loại hành vi được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; xâm phạm bí mật kinh doanh; ép buộc trong kinh doanh; gièm pha doanh nghiệp khác; gây rối hoạt động của doanh nghiệp khác; quảng cáo và khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; phân biệt đối xử của hiệp hội; bán hàng đa cấp bất chính và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác do Chính phủ quy định thỏa mãn các tiêu chí tại Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh. Trong ba cách quan niệm trên, với cách quan niệm thứ nhất thì lượng hành vi bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh rất rộng, điều đó có thể sẽ tạo ra sự lẫn lộn trong cơ chế xử lý giữa hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong khi đó hai loại hành vi này lại có những đặc điểm khác biệt về bản chất rất khó trộn lẫn với nhau.
Cách quan niệm thứ hai được quy định trong Công ước Paris lại có phần hẹp hơn, hướng tới các hành vi mang tính chất gian dối trong hoạt động thương mại, cụ thể các hình thức cạnh tranh không lành mạnh bị cấm: - Mọi hành vi nhằm gây ra sự nhầm lẫn, bằng bất kỳ phương tiện nào với cơ sở, hàng hóa hay hoạt động kinh doanh, thương mại của đối thủ cạnh tranh; - Những tuyên bố sai trái trong công việc kinh doanh nhằm mất uy tín của cơ sở, hàng hóa hay hoạt động kinh doanh, thương mại của đối thủ cạnh tranh; - Những chỉ dẫn hoặc tuyên bố sử dụng trong quá trình kinh doanh nhằm lừa dối công chúng về bản chất, quy trình sản xuất, đặc điểm, sự phù hợp về mục đích hoặc số lượng của hàng hóa. Với những quy định của Công ước Paris thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh không bao hàm một số hành vi thường được coi là hành vi cạnh 9 tranh không lành mạnh trong pháp luật của nhiều quốc gia như hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của đối thủ, xâm phạm bí mật kinh doanh… Cách quan niệm theo Luật Cạnh tranh Việt Nam có phần hẹp hơn cách quan niệm thứ nhất nhưng lại rộng hơn cách quan niệm thứ hai. Tuy nhiên, dựa trên bối cảnh điều kiện kinh tế, kinh nghiệm lập pháp và thực thi pháp luật, thì phạm vi các hành vi được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại Điều 39 Luật Cạnh tranh là tương đối phù hợp. Qua cách định nghĩa về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của pháp luật các nước và Điều ước quốc tế, có thể thấy một điểm chung giữa các khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đó là hành vi cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận mà đi ngược lại các nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng.2 Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh Luật Cạnh tranh 2004 có thể thấy hành vi cạnh tranh không lành mạnh có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trước hết là một hành vi cạnh tranh do các chủ thể kinh doanh trên thị trường thực hiện, nhằm mục đích lợi nhuận.
Đặc điểm này thể hiện quy định về chủ thể và mục đích thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Theo đó, chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các doanh nghiệp tham gia hoạt động trên thị trường. Ở đây khái niệm phạm trù “doanh nghiệp” được hiểu theo nghĩa rộng hơn so với khái niệm phạm trù “doanh nghiệp” được quy định tại Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014. Theo Luật Doanh nghiệp thì “doanh nghiệp” chỉ được hiểu là tổ chức kinh tế, còn theo Luật Cạnh tranh thì “doanh nghiệp” đó là bao gồm mọi tổ chức hay cá nhân tham gia hoạt động tìm kiếm lợi nhuận một cách thường xuyên và chuyên nghiệp, hay sử dụng khái niệm của 10 pháp luật thương mại là có tư cách thương nhân trên thị trường.
Trên một phạm vi rộng hơn, các quy định về cạnh tranh không lành mạnh còn có thể áp dụng đối với hành vi của các nhóm doanh nghiệp hoạt động có tổ chức (hiệp hội) và các cá nhân hành nghề tự do (bác sĩ, luật sư, kiến trúc. Ngoài ra, mục đích cạnh tranh cũng là một yếu tố bắt buộc để có thể xác định một hành vi cạnh tranh lành mạnh hay không. Nếu hành vi của một doanh nghiệp, hiệp hội hay cá nhân mà không nhằm mục đích cạnh tranh thì đó không phải là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh. Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh.
Đặc điểm này là căn cứ để xác định bản chất không lành mạnh của hành vi. Tuy nhiên, khái niệm “chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh” hãy còn mang tính trừu tượng, rất khó xác định. Nó còn phụ thuộc vào quan niệm truyền thống kinh doanh của riêng từng quốc gia, hay từng vùng miền. Không có căn cứ pháp lý hoặc cấu thành pháp lý cụ thể, rõ ràng để xác định đặc điểm này.
Theo tìm hiểu, thuật ngữ “chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh” có thể xác định dựa vào hai căn cứ: - Căn cứ luật định là những tiêu chuẩn được định lượng hóa bằng pháp luật, khi một hành vi đi trái với các quy định của pháp luật sẽ được xem là không lành mạnh. Trong trường hợp này hành vi cạnh tranh không lành mạnh đồng nghĩa với hành vi cạnh tranh bất hợp pháp, có thể là hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm điều cấm của pháp luật bao gồm các quy định của Luật Cạnh tranh và các văn bản pháp luật khác như pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật thương mại… hoặc là hành vi vi phạm các tiêu chuẩn lành mạnh được pháp luật quy định cũng là những nguyên tắc cơ bản của giao dịch dân sự, thương mại như nguyên tắc về tính trung thực, thiện chí, tự nguyện… được quy định tại các văn bản như Bộ luật Dân sự hay Luật Doanh nghiệp.