Chương 1 - Một số van dé lý luận về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thông lĩnh thi trường Chương 2 — Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thông lĩnh thị trường Chương 3 — Giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dung vị trí thông lĩnh thị trường. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE KIEM SOÁT HANH VI LAM DUNG VI TRI THONG LINH THI TRUONG 1. Khái quát hành vi lam dụng vi trí thống lĩnh thị trường 1. Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường (dominant market position) Do sự tập trung tư bản ở các lĩnh vực và đặc điểm kinh tế - xã hội trên các vùng lãnh thổ khác nhau nên pháp luật các nước đưa ra khái niệm nhận dạng vi trí thong lĩnh thị trường cũng không giống nhau.
Về quan niệm vị trí thống lĩnh, pháp luật của cộng hoà Pháp đưa ra hai cách tiếp cận khác nhau (bồ sung cho nhau) là cách tiếp cận mang tính học thuyết và cách tiếp cận mang tính thực tiễn. Dưới góc độ lý thuyết, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh là doanh nghiệp có khả năng thoát khỏi cạnh tranh, không chịu sự ràng buộc của thị trường va đóng vai trò chủ đạo trên thi trường đó. Quan điểm này xuất phát từ suy luận răng hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp bình thường luôn chịu sự chi phối bởi các quy luật thị trường. Với vị trí thống lĩnh, doanh nghiệp có khả năng thoát khỏi sự ràng buộc đó và tự làm luật trên thị trường mà chúng hoạt động.
Dưới góc độ thực tiễn, pháp luật của Pháp có thé kết luận về sự tồn tại vi trí thống lĩnh trên một thị trường cụ thể nào đó khi trên thị trường đó xuất hiện hành vi không thể có trong môi trường cạnh tranh thực sự. Cách tiếp cận này đưa ra sự so sánh giữa thị trường cạnh tranh giả định và một thị trường cụ thê đang xem xét. Lý luận của quan điểm này là một doanh nghiệp có hành vi lạm dụng chưa han muốn lam dụng, nhưng doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng chắc chắn phải có khả năng lạm dụng. Dù cách diễn đạt có khác nhau, song hai quan niệm trên đều mô tả vị trí thống lĩnh thi trường là khả năng thực hiện những hành vi chi phối thị trường của những doanh nghiệp cụ thé.
Khả năng đó không thé là kết quả của sự suy luận chủ quan mà phải dựa trên những phân tích từ một hành vi cụ thể có đối tượng tác động, có thể gây ra những hậu quả hạn chế cạnh tranh trên thực tế. 7 Ở Việt Nam, Luật cạnh tranh 2004 là đạo luật trực tiếp điều chỉnh các hành vi cạnh tranh và kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh, nhưng không đưa ra một khái niệm cụ thể thế nào là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vi tri thong lĩnh thi trường, ma đưa ra các điều kiện dé xác định vị tri thống lĩnh thị trường thông qua phương pháp định lượng, tức là xác định qua thị phan của chúng trên thị trường liên quan ( Điều 11, Luật cạnh tranh ). Theo Điều 102 Hiệp ước Cộng đồng kinh tế Châu Âu (TFEU), “vi trí thống lĩnh thị trường” được định nghĩa là :“Thế mạnh kinh tế hình thành do việc thực hiện hành vi ngăn cản cạnh tranh hiệu quả vốn được duy trì trên thị trường liên quan, thông qua đó, doanh nghiệp có thé hành xử độc lập đáng kê trước đối thủ cạnh tranh, khách hàng và cuối cùng là người tiêu dùng”. “Vj trí thống lĩnh thị trường” dưới góc độ pháp luật cạnh tranh được hiểu là một doanh nghiệp trên thị trường liên quan có khả năng tăng giá bán sản phẩm, hạn chế số lượng sản phâm đầu ra hoặc thậm chí hạn chế quá trình d6i mới sản phẩm và những điều này có thé gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường liên quan [15,tr54].
Nguyên nhân hình thành vi trí thống lĩnh thi trường Thị trường là sự tương tác giữa cung và cầu, qua đó xác định giá và lượng hàng hoá hoặc dịch vụ trao đổi. Tinh đa dang trong hoạt động trao déi giữa người mua và người bán hình thành nên các hình thái thị trường khác nhau. — Vị trí thống lĩnh thị trường có thé được hình thành thông qua: - Do sáp nhập, hợp nhất các doanh nghiệp dé tập trung các nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ vào một doanh nghiệp, tạo ra nhiều ưu thế hơn khi cạnh tranh, loại bỏ đối thủ, độc chiêm và kiêm soát toàn bộ thị trường. - Liên kết và thông đồng “ngầm” giữa các doanh nghiệp về giá, sản lượng, khách hàng và vùng tiêu thụ sản phâm, lĩnh vực sản xuat.
- Do còn tổn tại những vật cản về pháp lý, hành chính và kinh tế đối với khả năng gia nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềm năng. 8 - Độc quyền tự nhiên do đặc thù của công nghệ sản xuất, hoặc do đặc thù của ngành hàng, lĩnh vực kinh doanh. - Vị trí thống lĩnh còn được hình thành do quyết định hành chính của cơ quan nhà nước đặc biệt là ở Việt Nam. Day là hình thức thống lĩnh dé Nhà nước có thé chi phối những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân, hoặc để đảm bảo những nhu cầu thiết yếu và bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng, đảm bảo an sinh xã hội.
Việc duy trì độc quyền Nhà nước cũng cần phải chia thành những cấp độ nhất định và trong từng cấp độ ấy cũng phải tạo ra áp lực cạnh tranh để nâng cao năng lực của bản thân các doanh nghiệp Nhà nước. Tùy theo lĩnh vực và ngành kinh doanh mà Nhà nước quản lý toàn diện, chặt chẽ (an ninh, quốc phòng), hay nắm quyền kiểm soát , điều tiết và chi phối ( Ngành kinh tế công cộng, Tài chính — Ngân hàng. Khái niệm, đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 1.1 Khải niệm hành vi lam dung vị trí thong linh thị trường Hiện nay, có hai xu hướng cơ bản trong pháp luật của các nước và các tô chức quôc tê khi mô tả về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Xu hướng thứ nhất, pháp luật đưa ra khái niệm và có những quy định cụ thé về từng hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.
Điển hình cho xu hướng này là các quy định trong Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hiệp quốc được thông qua ngày 22 thang 4 năm 1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của Tổ chức thương mai va phát trién Liên hiệp quốc. Theo đó, hành vi lạm dung vi tri thong linh dé han ché canh tranh la hanh vi han ché canh tranh mà doanh nghiệp có vị trí thông lĩnh sử dung dé duy trì hay tang cường vị trí của no trên thi trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh [36, tr 52]. Xu hướng thir hai, pháp luật không đưa ra khái niệm của hành vi mà chỉ quy định một cách khái quát các dấu hiệu cấu thành của hành vi, đồng thời có những quy định cụ thê liệt kê các hành vi bị coi là lạm dụng vi tri thống lĩnh thị trường. Ví dụ điển hình cho xu hướng này là Pháp luật cạnh tranh của Canada.
Khoản I Điều 79 Luật cạnh tranh Canada không đưa ra 9 khái niệm mà quy định về ba dấu hiệu của hành vi nay: (1) Một hoặc một nhóm doanh nghiệp về cơ bản hoặc hoàn toàn kiểm soát một loại hình hoặc một phân đoạn kinh doanh, dù trên toàn lãnh thé Canada hay tại bat kỳ khu vực nào đó của nó; (2) Đã hoặc đang thực hiện hành vi phản cạnh tranh được quy định trong luật cạnh tranh; (3) Hành vi đó đã, đang hoặc có khả năng làm cản trở hoặc hạn chế cạnh tranh trên thị trường một cách đáng kể. Bên cạnh các dấu hiệu của hành vi được quy định trong Điều 79, Điều 78 Luật cạnh tranh Canada liệt kê 9 nhóm hành vi phản cạnh tranh có thé bị cắm.[38] So sánh hai xu hướng này, có thé thấy rằng sự khác biệt căn bản thé hiện ở hai điểm chính sau:(1) Khác nhau về kĩ thuật thiết kế quy phạm pháp luật. Nếu như xu hướng thứ nhất tìm cách khái quát hoá hành vi băng một khái niệm chung thì xu hướng thứ hai tập trung vào quy định mô tả từng hành vi cu thé. Việc liệt kê các dấu hiệu của hành vi đơn giản chỉ là những nội dung bắt buộc phải chứng minh khi xử lý một vụ việc cụ thể về hành vi hạn chế cạnh tranh.
(2) Hai xu hướng này còn khác biệt nhau ở dấu hiệu chủ quan của hành vi. Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam theo xu hướng thứ hai. Luật cạnh tranh năm 2004 chỉ đưa ra khái niệm chung về hành vi hạn chế cạnh tranh mà không định nghĩa thế nào là hành vi lạm dung vi trí thống lĩnh thị trường. Theo đó, hanh vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gom thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dung vi trí thong lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và tập trung kinh té.
Điều 13 Luật cạnh tranh 2004 liệt kê các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bao gôm: - Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh; - Áp đặt giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng; - Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kĩ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng: 10 - Ap dat diéu kién thuong mai khac nhau trong giao dich nhu nhau nham tao bat binh dang trong canh tranh; - Ap đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hang hoá dich vu hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng: - Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới. Như vậy, có thể hiểu “Hành vi lạm dung vị tri thong lĩnh thị truong là những hành vi do doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị tri thong lĩnh thị trường thực hiện nhằm củng cố vị trí thong lĩnh bằng cách loại bỏ doanh nghiệp khác ra khỏi thị trường; ngăn cản, kìm hăm doanh nghiệp khác không cho gia nhập thị trường, phát triển kinh doanh hoặc nhằm thu lợi nhuận độc quyên bằng cách bóc lột khách hàng” [39, tr 104].