Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN VỀ THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1. CÁC LÝ THUYẾT VỀ THỂ CHẾ, THỂ CHẾ KINH TẾ, THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Các quan niệm về thể chế, thể chế kinh tế, thể chế kinh tế thị trường Thể chế là thuật ngữ đã xuất hiện từ rất sớm, nhưng nó chỉ được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và hoạch định chính sách kinh tế từ những năm 20 -30 của thế kỷ XX, lúc đầu ở các nước phương Tây. Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang vận hành theo cơ chế thị trường tại các nước XHCN trước đây, ở Trung Quốc và cả ở nước ta, van dé thể chế ngày cảng được quan tâm hơn.
Cho đến nay, thuật ngữ thể chế đã trái qua những thời kỳ lịch sử nhất định gắn với một trường phái trong kinh tế học là kinh tế học thể chế. Theo giác độ này, có thể phân chia các quan niệm về thể chế theo các giai đoạn nghiên cứu thể chế một cách tương đối, bao gồm quan niệm của các học giả trước kinh tế học thể chế và trong kinh tế học thê chế. Quan niệm của các nhà kinh tế học thể chế cũng có thê phân thành kinh tế học thể chế cũ và kinh tế hoc thé chế mới. Quan niệm của các học giả trước kinh tế học thể chế Ngay từ rất sớm thuật ngữ thể chế đã được đưa vào sử dụng trong nghiên cứu.
(1588 -1679) - nhà triết học duy vật chủ nghĩa Anh đã nêu ra quan điểm cho rằng, sự hình thành những thể chế là kết quả của sự thỏa thuận xã hội theo kiểu cam kết hợp đồng giữa những con người đang sống trong một xã hội chưa có nhà nước và có thể gây thiệt hại cho nhau trong cuộc chạy đua vì cái lợi của mình ?. Vì vậy, có thể hiểu thể chế ban đầu là những chuẩn mực được hình thành một cách có chủ đích trên cơ sở 2 Hobbs T. Harmondsworth: Penguin Books, 1968 (B pyc. 85—89) thỏa thuận giữa các thành viên xã hội nhằm giảm thiểu những thiệt hại mà các thành viên của xã hội có thể gây ra cho nhau.
Khác quan điểm về sự hình thành thể chế một cách có mục đích của Hobbs T.(1771-1776), nhà triết học, sử học, kinh tế học và văn học người Xcốt-len, vào năm 1748 cho rằng, những thể chế như xử án và sở hữu đã được hình thành dần dần dưới dang cdc sản phẩm phụ của sự tác động xã hội qua lại. Theo ông, nhân tố quan trọng đối với sự hình thành thể chế chính là sự lặp đi lặp lại của những mối liên hệ tương tác này hay tương tác khác. Chính trong sự lặp đi lặp lại đó, đã xuất hiện các chuẩn mực và chúng được củng cố dần, chuyền hóa dần thành những quy tắc bền vững, và những thể chế được hình thành theo kiểu đó sẽ mang lai lợi ích cho toàn xã hội °. Theo quan điểm của A.Smith (1723 - 1790) - nhà kinh tế người Anh, ban thân thị trường có chức năng thúc đây sự hình thành các thể chế có lợi cho xã hội nói chung, còn các thể chế không có lợi sẽ bị loại bỏ bởi cạnh tranh.
Theo, Herbert Spencer (1820-1903), nhà triết học và kinh tế học người Anh, cần phân tích thé thé theo phương diện khả năng đáp ứng các nhu cầu chức năng của xã hội, cơ chế loại bỏ những thể chế không hiệu quả khỏi thị trường là sự chọn lựa của xã hội 1. Như vậy, nhìn chung, các học giả này mới chỉ dừng lại ở mức phát hiện và phân tích một vài đặc điểm riêng biệt của thể chế, họ chưa đưa ra được một quan niệm thống nhất về thể chế. Tuy nhiên những quan điểm đó cũng đã có ảnh hưởng khá lớn tới sự hình thành một trường phái lý thuyết kinh tế mới là kinh tế học thể chế, đặc biệt là đối với quan niệm của các học giả kinh tế thể chế cũ. Quan niệm của các học giá kinh tế học thể chế cũ Học thuyết kinh tế thể chế cũ ra đời vào thập kỷ thứ 2 và thứ 3 của thế kỷ XX, với các nhà khoa học nổi tiếng là Veblen, Mitchell và Commons.
Giống như quan niệm của các học giả trước kinh tế học thé chế, quan niệm về 3 Hume D. A Treatise of Human Justice. Oxford: Clarendon Press, 1960 (B pyc. TpaKTaT 0 YenoBeYeckoi npupoge.
UccnegoBaHve o npuHynax Mopann // Om J.ru/textbook/Glava_2_Ekonomi4esko/2_5_Instituty/PonRtie_instituta 9 thé chế của các học giá kinh tế học thể chế cũ cũng không đồng nhất. (1862-1945), nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng, đôi khi có thể hình dung thể chế là tòa nhà được làm bằng những luật lệ và quy định, còn các cá nhân là những người sống trong tòa nhà đó. Và cũng đôi khi có thể hình dung rằng, thể chế là bản thân hành vi của những người ở đó *. Ví dụ như, Gustav Schmoller (1926) thuộc trường phái lịch sử Đức, một mặt cho rằng thể chế là những hình thức tô chức kinh doanh thông thường có tính ồn định như thị trường, doanh nghiệp, nhà nước, tức là đồng nhất thé chế với tổ chức.
Mặt khác, ông lại nói về những sự thỏa thuận, những thói quen trong hành vi, mà theo ông chúng gắn với những tư tưởng, chuẩn mực đạo đức và luật lệ, tức là đồng nhất thể chế với quy tắc. Thể chế được các cá nhân cảm nhận như là những hạn định. Thẻ chế có tác dụng kích tích đối với động cơ hoạt động; còn động cơ hoạt động thì để lại dấu ấn trong các chuẩn mực, giá trị, mà các chuẩn mực và giá trị lại biểu hiện ra đưới hình thái thể chế 5.(1857-1929) - người theo trường phái thể chế Mỹ vào năm 1919 cho rằng thể chế là những quy tắc và thỏa thuận xã hội được thiết lập và có tác động điều tiết các quan hệ xã hội”. Tán đồng với quan điểm của Veblen, Emile Durkheim (1858-1917), nhà xã hội học người Pháp coi thể chế là mọi dạng tư tưởng, hành động và cảm giác có tác động tạo khuôn khổ cho các cá nhânŸ, tức là đồng nhất thể chế với các nhân tố xã hội.
lai có quan niệm khác về thể chế, khi phân tích thể chế với tư cách là cơ chế có tổ chức để đạt được những mục tiêu tập thé, ông đã đồng nhất thé chế với tổ chức. Ông cho rằng, có thể xác định thể chế như là hành động tập thể để kiểm soát hoạt động cá nhân. Phạm vi của hành động tập thể rất rộng: từ những thói quen chưa có tính tổ chức tới những doanh nghiệp có tính tổ chức cao, từ các hình thái tổ chức như gia đình, tới các hình thái tổ *Commons J. Institutional Economics: Its Place in Political Economy.Grundiss der Allegemeinen Volkswirtschaftslehre: 2 Bd.
Berlin:Duncker & Humblot, 1923 T Veblen T. Why Is Economics Not an Evolutionary Science // Quarterly Journal of Economics. Ee ipeMeT, MeTO/I, IDeHa3Hawenne.: Kanon, 1995 10 chức như tập đoàn, hội chợ, hiệp hội thương mại, công đoản.và cả nhà nước. Nguyên tắc chung của những thể chế đó là mức độ kiểm soát nhất định của hành động tập thê đối với hoạt động cá nhân °.
Từ những trình bày trên có thể thấy đặc điểm chủ yếu của trường phái kinh tế học thể chế cũ là đã coi thể chế là vấn đề quan trọng của đời sống xã hội nói chung va cua lĩnh vực kinh tế nói riêng. Mặc dù chưa có sự phân định rõ giữa các thuật ngữ thể chế, thể chế kinh tế và thể chế KTTT, nhưng có thể thấy mục tiêu sử dụng thuật ngữ thể chế là nhằm giải thích một phương diện nhất định của KTTT trong sự khác biệt với lý thuyết cỗ điển. Nếu như lý thuyết cổ điển đề cao vai trò của các yếu tố khách quan có tính quy luật, thì kinh tế học thể chế lại quan tâm tới yếu tố chủ quan, kết quả của những nỗ lực chủ quan nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kinh tế của toàn xã hội nói chung. Do vậy, có thể coi thể chế KTTT là biểu hiện cụ thể của thể chế va thé chế kinh tế trong KTTT.
Khái niệm thể chế thường được hiểu đồng nhất với các hình thái tổ chức hoạt động của con người, bao gồm các hình thái hoạt động của cá nhân như thói quen, và các hình thái hành động tập thể dưới dạng các tô chức khác nhau. Quan niệm của các học giả kinh tế học thể chế mới Học thuyết kinh tế thể chế mới ra đời vào khoảng thập kỷ thứ 7 của thế kỷ XX ở Mỹ và một số nước khác. Khác với những quan niệm trước kinh tế học thể chế và kinh tế học thể chế cũ, các học giả thuộc kinh tế học thể chế mới ủng hộ quan điểm phân biệt thể chế với tổ chức. Họ cho rằng thể chế là cái gì đó đứng ở vị trí cao hơn những thành viên riêng biệt của sự tác động qua lại.
Quan điểm coi thể chế là các quy tắc có cơ sở từ tư tưởng của Hohfeld W. Nội dung chủ yếu của tư tưởng này là: Phần lớn các thể chế đều tồn tại tách rời bên ngoài các cá nhân cụ thể với tư cách là những quy tắc trò chơi chứ không phải là người chơi ''. Tư tưởng này sau được Noth D.(1990), thể chế bao gồm cả những quy tắc chính thức và những chuẩn mực Commons J. Institutional Economics: Its Place in Political Economy.
Some Fundamental Legal Concepts as Applied in the Study of Primitive Law // Yale Law J ournal. The Legal Foundations of Capitalism.: University of Wisconsin Press, 1968). 11 phi chính thức (những chuân mực hành vi được thừa nhận rộng rãi, những thỏa thuận đã đạt được, những hạn định bên trong của hoạt động) và cả những đặc trưng nhất định của sự bắt buộc thừa hành việc này hay việc khác. viết: “Các thể chế bao gồm bất cứ một hình thức giới hạn nào mà con người tạo ra để hình thành nên mối quan hệ qua lại của mình.và tôi quan tâm đến cả các giới hạn chính thức - như các quy chế mà con người tạo ra - lẫn các giới hạn không chính thức - như các thông lệ, và bộ luật về hành vi.
Các thể chế có thể được tạo ra, như Hiến pháp Hoa Kỳ chẳng hạn; hoặc chúng chỉ có thể tiến triển theo thời gian, như luật tập tục”! Noth D. đã phân biệt rõ rệt giữa các thể chế với các tổ chức và mối quan hệ giữa thể chế với tổ chức: “Cả việc những tổ chức nào sẽ ra đời lẫn việc chúng sẽ tiến triển như thế nào về căn bản đều chịu tác động của khuôn khổ thể chế.