Chương 1: Lý luận pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và quy chế pháp lý của tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Chương 2: Thực trạng quy chế pháp lý của tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế pháp lý của tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. 6 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG VÀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA TỔ CHỨC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG 1.
Khái niệm về ngƣời tiêu dùng và quyền của ngƣời tiêu dùng 1. Khái niệm ngƣời tiêu dùng Khái niệm người tiêu dùng là một khái niệm rất phổ biến và được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau: Từ góc độ kinh tế, người tiêu dùng để chỉ những chủ thể tiêu thụ của cải, vật chất được tạo ra bởi nền kinh tế. Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua quá trình sử dụng chúng [2]. Trong bất kỳ nền kinh tế nào, người tiêu dùng luôn là đối tượng được hướng tới của mọi cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh, hàng hóa dịch vụ.
Người tiêu dùng quyết định nhóm ngành, hàng được sản xuất, định hướng đầu tư và phát triển cho các doanh nghiệp trong thị trường hay có thể nói: NTD quyết định “số phận” của doanh nghiệp bằng “lá phiếu” đồng tiền của mình [43]. Từ góc độ pháp lý, người tiêu dùng là thuật ngữ pháp lý để chỉ các chủ thể pháp luật được quy định trong pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Người tiêu dùng với tư cách là một khái niệm pháp lý, được coi là đối tượng quan tâm bảo vệ đặc biệt của pháp luật chỉ mới xuất hiện vào khoảng những năm giữa thập niên 1950-1960 của thế kỷ trước khi các đạo luật bảo vệ người tiêu dùng ra đời. Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các nước khác nhau có sự ra đời và phát triển khác nhau, vì vậy, khái niệm người tiêu dùng cũng được tiếp cận và định nghĩa khác nhau ở các nước, chẳng hạn như: Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Ấn Độ ngày 24/12/1986 [50] quy định Người tiêu dùng: “là bất kỳ người nào mua bất kỳ loại hàng 7 hóa nào hoặc thuê hay sử dụng bất kỳ dịch vụ nào bao gồm cả những người sử dụng hàng hóa hoặc được hưởng lợi từ dịch vụ khác với người mua hàng hóa hoặc thuê sử dụng dịch vụ đó, không bao gồm người mà có được hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ như vậy để bán lại hoặc để cho bất kỳ mục đích thương mại nào”.
Luật bảo vệ NTD của Liên Xô (cũ) định nghĩa NTD là “công dân sử dụng, mua, đặt hàng hoặc có ý định mua sắm sản phẩm để sử dụng riêng”. Luật tiêu dùng Pháp định nghĩa: “NTD được hiểu là người không phải chủ doanh nghiệp, tức là thể nhân mua các sản phẩm và dùng các dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động nghề nghiệp, kiếm lợi nhuận để phục vụ cho gia đình hoặc bản thân”. Luật bảo vệ NTD của Thái Lan năm 1979 định nghĩa: “NTD là người mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ của một nhà kinh doanh, kể cả những người được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ của nhà kinh doanh”. Luật bảo vệ người tiêu dùng Hàn Quốc quy định: NTD có nghĩa là những ai sử dụng hàng hóa và dịch vụ được cung cấp bởi doanh nghiệp cho mục đích sử dụng hàng ngày hoặc sản xuất, theo quy định trong Nghị định của Tổng thống.
Như vậy, quan niệm về người tiêu dùng ở mỗi quốc gia có thể được định nghĩa khác nhau, song tổng hợp lại những quan điểm này nổi lên ba vấn đề về tư cách chủ thể; cách thức tiếp cận; mục đích sử dụng hàng hóa, dịch vụ [15]. (1) Về tƣ cách chủ thể: Tư cách chủ thể của người tiêu dùng đặt ra câu hỏi: Người tiêu dùng có thể là những ai (cá nhân hay pháp nhân)? Khi người tiêu dùng là pháp nhân thì cơ chế bảo vệ cần lưu ý gì? Trả lời cho câu hỏi này, trong pháp luật về người tiêu dùng của các nước có hai trường phái quan niệm khác nhau. Quan điểm thứ nhất, người tiêu dùng chỉ có thể là cá nhân (thể nhân). Theo chỉ thị 93/13/EEC năm 1993 của Hội đồng Châu Âu tại Điều 2 thì “người tiêu dùng được xác định là con người tự nhiên”.
Quy định này được 8 các thành viên EU kế thừa và tiếp tục ghi nhận trong luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của mình. Tương tự như vậy, tại Điều 1(e) Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Bang Quebec, hay Điều 1 Luật Bảo vệ người tiêu dùng và các hành vi kinh doanh của Bang British Columbia quy định rõ “người tiêu dùng là tự nhiên nhân (thể nhân)” không có quan hệ mua hàng theo hợp đồng với nhà sản xuất, kinh doanh mà chỉ là người sử dụng và thụ hưởng hàng hóa dịch vụ. Luật Bảo vệ NTD của Liên Xô (cũ) định nghĩa NTD là “công dân sử dụng, mua, đặt hàng hoặc có ý định mua sắm sản phẩm để sử dụng riêng”. Luật tiêu dùng Pháp định nghĩa: “NTD được hiểu là người không phải chủ doanh nghiệp, tức là thể nhân mua các sản phẩm và dùng các dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động nghề nghiệp, kiếm lợi nhuận để phục vụ cho gia đình hoặc bản thân”1.
Quan điểm này tiếp tục được khẳng định trong một phán quyết của Tòa án Công lý Châu Âu năm 1991, trong đó cùng với việc bác bỏ đề nghị ghi nhận doanh nghiệp mua sản phẩm, dịch vụ vì mục đích phi lợi nhuận là một dạng “người tiêu dùng”, khẳng định rõ “người tiêu dùng là bất cứ tự nhiên nhân (thể nhân) nào…” tại Chỉ thị số 1999/44/EC về mua bán hàng hóa tiêu dùng và các bảo đảm có liên quan… Quan điểm thứ hai, người tiêu dùng có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Khác với quan điểm thứ nhất cho rằng người tiêu dùng chỉ có thể là cá nhân, một số nước lại thừa nhận người tiêu dùng có thể là bất cứ ai, bao gồm cả thể nhân và pháp nhân. Chẳng hạn như: Luật bảo vệ người tiêu dùng Đài Loan ban hành ngày 11/01/1994, bổ sung năm 2005 ghi nhận Người tiêu dùng là “người tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng”, không phân biệt thể nhân hay pháp nhân. Tương tự, Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Ấn Độ năm 1986 cũng có quy định gần tương tự tại Điều 2(1d): Người tiêu dùng là bất cứ người nào mua… hàng hóa… mà không có 1 Xem thêm: Viện Nhà nước và Pháp luật (1999), Tìm hiểu Luật bảo vệ NTD các nước và vấn đề bảo vệ NTD ở Việt Nam, Nxb.
Lao động, Hà Nội. 9 mục đích để bán lại hoặc vì mục đích thương mại khác và Điều 2(1m) giải thích chữ “người” (nhân) ở đây được hiểu bao gồm: hãng (doanh nghiệp), cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, tổ chức xã hội. Còn ở Hàn Quốc về mặt chủ thể, khái niệm người tiêu dùng của Hàn Quốc sử dụng thuật ngữ “là những ai” cho nên có thể hiểu là khái niệm này không hạn chế ở cá nhân mà có thể bao hàm cả pháp nhân. Luật bảo vệ người tiêu dùng của Thái Lan cũng theo quan điểm thứ hai quy định người tiêu dùng có thể là cá nhân hoặc pháp nhân… Sở dĩ quan điểm về tư cách chủ thể của người tiêu dùng có sự phân biệt rạch ròi giữa cá nhân và pháp nhân là xuất pháp từ suy nghĩ trong quan hệ tiêu dùng, người tiêu dùng luôn là bên yếu thế và pháp luật ra đời để bảo vệ bên yếu thế.
Do đó, nếu pháp nhân là người tiêu dùng thì khó có thể cho rằng pháp nhân cũng là bên yếu thế, kém hiểu biết, thiếu thông tin, không có khả năng tài chính nên cần được bảo vệ và hưởng những “đặc quyền” như mỗi cá nhân đơn lẻ2. Thậm chí người ta còn lo ngại rằng, với quy định này pháp luật đã tạo điều kiện cho kẻ “không yếu” giành lợi thế bất chính với bên kia dưới danh nghĩa người tiêu dùng. Điều này làm mất ý nghĩa cũng như lãng phí nguồn lực cho chính sách bảo vệ người tiêu dùng, can thiệp quá sâu và không cần thiết vào các quan hệ dân sự.3 Ngược lại với quan điểm này, những quốc gia quy định người tiêu dùng có thể là pháp nhân cho rằng không phải lúc nào pháp nhân cũng là người đủ khả năng để đối mặt được với vi phạm từ phía nhà sản xuất kinh doanh và hậu quả là nếu Luật Bảo vệ người tiêu dùng không bảo vệ họ như đối với cá nhân tiêu dùng khác thì quyền lợi của một nhóm đối tượng khá lớn trong xã hội bị xâm phạm, gây thiệt hại chung cho toàn xã hội [15]. (2) Cách thức tiếp cận hàng hóa dịch vụ 2 Nguyễn Thị Thư (2014), Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ, 2014, tr.
3 Nguyễn Thị Thư (2014), Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ, 2014, tr. 10 Vấn đề này đề cập trực tiếp đến mối quan hệ giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp, đây là cơ sở để thiết lập quan hệ tiêu dùng. Trên cơ sở đó, là cách thức đạt được hàng hóa dịch của người tiêu dùng có hai cách tiếp cận khác nhau: Cách thứ nhất, chỉ quy định những người sử dụng hàng hóa dịch vụ theo hợp đồng, điển hình cho cách tiếp cận này là quy định tại chỉ thị của Châu Âu. Theo đó, người tiêu dùng không bao gồm người sử dụng, thụ hưởng hàng hóa dịch vụ mà không trực tiếp giao kết hợp đồng với nhà sản xuất, kinh doanh.
Cách tiếp cận này đã hạn chế đi phạm vi những người được bảo vệ theo các quy định của Luật Bảo vệ người tiêu dùng bởi lẽ người tiêu dùng không bao gồm những người thụ hưởng hàng hóa dịch vụ từ người khác thông qua quan hệ tặng cho, cho mượn, thừa kế.