Chương 1: Một số van dé chung về hoạt động quảng bá du lịch trên báo điện tử Chương 2: Thực trạng vấn đề quảng bá du lịch Hà Nội trên báo điện tử Anh ngữ thuộc diện khảo sát Chương 3: Một số vẫn đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả quảng bá du lịch Hà Nội trên báo điện tử Anh ngữ 16 CHUONG 1: MOT SO VAN DE CHUNG VE HOAT DONG QUANG BA DU LICH TREN BAO DIEN TU 1. Hệ thống khái niệm liên quan đến đề tài 1. Du lịch Du lịch đã trở thành một nhu cầu không thé thiếu và là một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến. Mặc dù khái niệm du lịch đã xuất hiện từ rất sớm và hoạt động du lịch bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ thé ky 19, tuy nhiên cho đến nay vẫn còn những nhận thức khác nhau về du lịch.
Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng. Du lịch gắn liền với nghỉ ngơi, giải trí, tuy nhiên do hoàn cảnh, thời gian và khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau nên khái niệm du lịch cũng không giống nhau. Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Du lich 2017: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyên đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Theo liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với điạ điểm cư trú thường xuyên cud mình nhằm mục đích không phải dé làm ăn, tức không phải dé làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống.
Tại hội nghị LHQ về du lịch hop tai Roma - Italia ( 21/8 — 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú cuả cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên cuả họ hay ngoài nước họ. Khái niệm rộng nhất và đầy đủ hơn cả có thể được dẫn trong Tuyên bố Ô-sa-ka của Hội nghị Bộ trưởng Du lịch thế giới: “Du lịch là con đẻ của hòa bình, là phương tiện củng cố hòa bình, là phương tiện cân bằng cán cân thanh toán quôc tê”.TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cần phải nhìn nhận du lịch ở nhiều góc độ vì kết quả của du lịch không phải chỉ ở mức độ đóng góp vào nên kinh tế, mà còn ở rất nhiều khía cạnh khác rất khó cân đo, đong đếm. Như vậy, từ các khái niệm trên có thé khái quát: Du lịch là một hành động khi con người di chuyên khỏi nơi cư trú đến một địa điểm khác với nhiều mục đích như nghỉ ngơi, giải trí, khám phá danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa. Du lịch là một sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội của loài người đến một giai đoạn phát triển nhất định.
Bản thân du lịch cũng là một ngành kinh doanh tổng hợp đem lại hiệu quả cao về nhiều mặt như đóng góp vào nên kinh tế chung của một đất nước, đem lại hiệu quả về xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ. Đối với du khách trong nước, việc đi du lịch sẽ giúp nâng cao hiểu biết về đặc trưng vùng miền, khám phá nét đẹp về cảnh quan va con người, khơi dậy lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Du lịch ngoài nước giúp con người phát triển các kỹ năng sử dụng trong môi trường da văn hóa, gia tăng tinh thần hữu nghị giữa các nước, có thêm nhiều góc nhìn về cuộc sống cũng như phát triển nhiều kỹ năng về giao tiếp và ngôn ngữ. Du lịch thành phố Theo cuốn “The changing nature of city tourism and its possible implications for the future of cities” (Sự thay đổi bản chat của du lịch thành phố và mối liên kế của nó với tương lai của các thành phố), du lịch thành phố là một trong những phân khúc phát triển nhanh nhất của ngành du lịch trên toàn thé giới và sự thay đôi về bản chất của du lịch thành phố ngày càng trở nên rõ ràng ở nhiều thành phó.
Ngày nay, hơn một nửa dân số thế giới sống ở các thành phố và đến năm 2030, ước tính có khoảng 5 tỷ người sẽ sống ở các khu vực đô thị. Là trung tâm sôi động của văn hóa và thương mại, một số điểm đến du lịch tuyệt vời nhất trên thế giới là các thành phố, thu hút số lượng du khách ngày càng tăng hàng năm. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc (UNWTO), du lịch thành phố - còn được gọi là du lich đô thị - được coi là “những chuyến đi của du khách đến 18 các thành phố hoặc những nơi có mật độ dân số cao. Thời gian của những chuyến đi này thường ngắn (từ một đến 3 ngày).
Trong khi tổng lượng khách du lịch quốc tế đang tăng lên hàng năm, có thé quan sát thấy các xu hướng khác nhau về các phân khúc và loại hình chuyến đi khác nhau. Theo Euromonitor International, lượng khách du lịch quốc tế đã tăng 4,8% trong năm 2013, trong khi 100 thành phố hàng đầu thế giới về lượng khách du lịch quốc tế đã tăng trưởng 5,4% trong cùng năm. Mặc dù những con số tăng trưởng này bao gồm các mục đích chuyên đi khác nhau, bao gồm cả các chuyến công tác, sự gia tăng của du lịch thành phố cũng có thé được quan sát khi xem xét các phân khúc kỳ nghỉ. Trong khi các kỳ nghỉ nắng & đi biển đã tăng 31% trong giai đoạn 5 năm qua (chiếm 29% tông số chuyến đi nghỉ), thì phân khúc du lịch nghỉ dưỡng đã tăng 28% (đạt 23% thị phần).
Tuy nhiên, phân khúc các chuyến đi trong thành phố đã tăng 72% trong 5 năm qua dé dat tỷ trọng 21%. Quảng bá Ngày nay, khái niệm “Quảng bá” được sử dụng rất rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng lẫn các phương tiện truyền thông mới. Nhiều tài liệu nghiên cứu, các lĩnh vực nghiên cứu, ngành nghề có liên quan đến quảng bá xây dựng hình ảnh, thương hiệu nhưng khái niệm “quảng bá” vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể và chính thức. Trong Từ điển Hán Việt, “quảng bá” là một từ ghép được ghép từ hai từ “quảng” với ý nghĩa là rộng lớn và “bá” có nghĩa là làm lan rộng.
Chúng ta có thé hiểu với sự tách nghĩa thuật ngữ này, “quảng bá” là lan truyền rộng rãi một thông tin, một van dé, một sự việc. Theo Từ điển Tiếng Việt, “Quảng bá là pho biến rộng rãi bằng phương tiện thông tin [49, tr. Tác giả Dinh Thị Thúy Hang trong cuốn PR-Kién thức và Đạo đức nghề nghiệp, Nxb Lao động xã hội, năm 2007, có nhận định quảng ba là “những hoạt động nhằm tạo ra hoặc thúc đẩy lợi ích, lợi nhuận cho một cá nhân, một sản phẩm hoặc một tổ chức” [30, tr. 12] Nói tóm lại, quảng bá được hiểu là hoạt động truyền bá rộng rãi về một 19 đối tượng nào đó, một tổ chức, đất nước hoặc vùng lãnh thé tới một đối tượng nào đó nhằm đạt được mục đích, mục tiêu cụ thé nào đó mà chủ thé truyền bá mong muốn.
Quảng bá du lịch Quảng bá du lịch chính là hoạt động truyền bá rộng rãi những thông tin tích cực, hình ảnh đẹp của một địa điểm, địa phương, đất nước dé người người biết đến hơn nữa nhằm thúc đây và phát triển ngành du lịch của đất nước. Thông tin và hình ảnh của đất nước chủ yếu bao quát tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người của đất nước đó (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử, khoa học, nghệ thuật, thé thao, cảnh quan thiên nhién,. Trên quan điểm kinh tế, hoạt động quảng bá du lịch có vai trò và tác dụng thuyết phục khách du lịch và thu hút họ đến nơi có dịch vụ du lịch. Trên cơ sở đó, các cơ sở dich vụ thỏa man đầy đủ những nhu cầu của khách tạo ra điều kiện cho việc khai thác tốt tài nguyên du lịch, lực lượng lao động, tăng số lượng sản phẩm được bán ra.
tăng giá trị xuất khẩu tại chỗ, tăng lợi nhuận và đạt hiệu quả kinh tế cao. Từ góc độ văn hóa — xã hội, quảng bá du lịch góp phần giúp du khách nâng cao hiểu biết về đất nước, lich sử, văn hóa, con người, cảnh quan thiên nhién,. Ở chiều ngược lại, người dân địa phương có thể nhận thức được tầm quan trọng của du lịch mà nâng cao lòng mến khách, giữ gìn môi trường, cảnh quan thiên nhiên, duy trì lối sống, hình ảnh đẹp của quê hương trong mắt du khách. Dé có thể quảng bá du lịch, cần phải thông qua các kênh quảng bá đó là phương tiện truyền thông đạ chúng như báo, đài, truyền hình.
hoặc phương tiện truyền thông mới như mạng xã hội. Những kênh này sẽ giúp thông điệp quảng bá đến với nhiều người nhờ độ phủ sóng rộng lớn. Ngoài ra, thông qua các sự kiện du lịch, người làm quảng bá cũng có thể giới thiệu hình ảnh đất nước đến với du khách. Ở giới hạn của luận văn này, tác giả khai thác vấn đề quảng bá du lịch Hà Nội trên phương tiện báo điện tử Anh ngữ.
Báo điện tử Báo điện tử là một loại hình báo chí ra đời muộn hơn báo in, phát thanh và truyền hình song lại là loại hình phát triển và phổ biến nhất hiện nay. Với sự phát triển của công nghệ thông tin và kỹ thuật tiên tiễn, báo điện tử còn có thé đảm đương nhiệm vụ của cả phát thanh, truyền hình lẫn báo in một cách dé dàng. Báo điện tử là loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức một trang web và phát hành dựa trên nền tảng internet. Báo điện tử được xuất ban voi tòa soạn điện tử với cơ cấu tổ chức có thé như một tòa soạn báo in, người đọc báo tiếp nhận thông tin thông qua máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng.
có kết nối internet. Báo điện tử còn có ưu thế là khả năng tương tác qua lại giữa cơ quan báo chí và công chúng, giữa công chúng với công chúng, tạo điều kiện thuận lợi thiết lập các diễn đàn báo chí; báo điện tử còn có ưu thế và khả năng đa phương tiện, tính thời sự, khả năng lưu giữ, tìm kiếm và truy xuất thông tin nhanh chóng, dễ dàng.