Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Vân (chuyên ngành Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, năm 2011) với đề tài "Thực trạng và giải pháp phát triển loại hình du lịch văn hóa ở Bắc Ninh" được thực hiện xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của ngành du lịch Việt Nam và tiềm năng tài nguyên nhân văn của tỉnh Bắc Ninh.

Về bối cảnh thực tiễn, văn hóa truyền thống của 54 dân tộc Việt Nam là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng. Trong các loại hình du lịch, du lịch văn hóa được xác định là hướng phát triển phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội, góp phần vào công tác xóa đói giảm nghèo và hội nhập quốc tế. Tỉnh Bắc Ninh là vùng đất có truyền thống văn hiến lâu đời, truyền thống khoa bảng và lịch sử chống ngoại xâm, lưu giữ hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú gồm công trình kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, làng nghề thủ công và dân ca quan họ. Tuy nhiên, hoạt động du lịch tại Bắc Ninh thời điểm nghiên cứu phát triển chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, công tác quản lý và khai thác còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, hiệu quả kinh tế chưa cao.

Tác giả xác định ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Giới thiệu một cách tổng quan về các tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc nhất của tỉnh Bắc Ninh có khả năng khai thác phục vụ phát triển loại hình du lịch văn hóa.
  2. Tìm hiểu, đánh giá và phân tích thực trạng khai thác loại hình du lịch văn hóa tại Bắc Ninh, làm rõ các nguyên nhân khiến loại hình này chưa phát triển hoặc phát triển chưa tương xứng.
  3. Đề xuất một số nhóm giải pháp khả thi nhằm phát triển loại hình du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung vào các tài nguyên văn hóa vật thể (di tích lịch sử - văn hóa, làng nghề truyền thống) và tài nguyên văn hóa phi vật thể (lễ hội truyền thống, văn nghệ dân gian, văn hóa ẩm thực) có giá trị phát triển du lịch văn hóa.

Về phạm vi nghiên cứu, không gian khảo sát bao gồm các địa bàn tập trung tài nguyên du lịch văn hóa trọng điểm của tỉnh Bắc Ninh như thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, các huyện Thuận Thành, Tiên Du, Quế Võ, Gia Bình, Lương Tài. Dữ liệu thực trạng và số liệu thống kê được cập nhật chủ yếu trong giai đoạn 2010 đến quý I năm 2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận sử dụng khung lý thuyết liên ngành giữa văn hóa học và kinh tế du lịch, dựa trên các khái niệm và văn bản quản lý nhà nước sau:

  • Khái niệm văn hóa: Trích dẫn định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1940), định nghĩa của Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor (1970) và định nghĩa của Giáo sư Trần Ngọc Thêm trong giáo trình "Cơ sở văn hóa Việt Nam".
  • Đặc trưng và chức năng văn hóa: Dựa trên mô hình của Giáo sư Trần Ngọc Thêm với 4 đặc trưng gắn liền với 4 chức năng: tính hệ thống (chức năng tổ chức xã hội), tính giá trị (chức năng điều chỉnh xã hội), tính nhân sinh (chức năng giao tiếp), tính lịch sử (chức năng giáo dục và kế tục lịch sử).
  • Khái niệm du lịch: Khảo cứu định nghĩa kinh tế học của Picara - Edmod, định nghĩa trong Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam và quy định pháp lý tại Điều 19 Chương I Pháp lệnh Du lịch năm 1999.
  • Khái niệm tài nguyên du lịch: Khái niệm của Pirolnik (1985), lý thuyết của các nhà khoa học du lịch Trung Quốc và định nghĩa tổng quát trong giáo trình du lịch học.
  • Khái niệm du lịch văn hóa: Quy định tại Luật Du lịch Việt Nam ban hành ngày 01/01/2006.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng trong khóa luận bao gồm:

  • Phương pháp khảo sát thực địa tại các di tích, làng nghề, điểm lễ hội trên địa bàn tỉnh.
  • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp từ sách chuyên khảo, báo cáo ngành.
  • Phương pháp thống kê, so sánh dữ liệu lượng khách và hiện trạng di tích.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu để rút ra kết luận thực tiễn.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm:

  • Báo cáo số liệu thống kê từ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Bắc Ninh.
  • Tài liệu từ Phòng Văn hóa và Thông tin các huyện: Thuận Thành, Tiên Du, Quế Võ, thị xã Từ Sơn.
  • Số liệu lượng khách và thực trạng hoạt động từ Ban quản lý di tích Chùa Dâu, Chùa Bút Tháp.
  • Các công trình nghiên cứu xuất bản trước đó như: "Hội Lim truyền thống và hiện đại" (Sở Văn hóa - Thông tin Bắc Ninh, 2004), "Các di tích lịch sử văn hóa Bắc Ninh" (Lê Viết Nga, 2005), "Không gian văn hóa quan họ Bắc Ninh - Bảo tồn và phát huy" (Viện Văn hóa Thông tin, 2006), "Quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa tỉnh Bắc Ninh gắn với hoạt động du lịch" (Sở VHTTDL Bắc Ninh, 2010).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận chung và tổng quan về tài nguyên du lịch văn hóa ở Bắc Ninh

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về văn hóa, du lịch, tài nguyên du lịch nhân văn và phân loại các loại hình văn hóa. Tác giả tiến hành thống kê, phân loại và mô tả chi tiết tiềm năng tài nguyên du lịch văn hóa của tỉnh Bắc Ninh theo hai nhóm chính: tài nguyên văn hóa vật thể và tài nguyên văn hóa phi vật thể.

Toàn tỉnh Bắc Ninh có gần 1.300 di tích phân bố tại 8 huyện, thị xã, thành phố. Tính đến tháng 8/2010, toàn tỉnh có 428 di tích đã được Nhà nước xếp hạng (gồm 191 di tích cấp bộ/quốc gia và 237 di tích cấp tỉnh).

STT Đơn vị hành chính (Huyện, thị xã, thành phố) Cấp bộ/quốc gia Cấp tỉnh Tổng số di tích xếp hạng
1 Thành phố Bắc Ninh 41 35 76
2 Huyện Quế Võ 9 19 28
3 Huyện Tiên Du 23 29 52
4 Thị xã Từ Sơn 42 36 78
5 Huyện Thuận Thành 24 29 53
6 Huyện Gia Bình 10 33 43
7 Huyện Lương Tài 10 26 36
Tổng Toàn tỉnh Bắc Ninh 191 237 428

Khóa luận trình bày đặc điểm lịch sử và kiến trúc của các di tích vật thể tiêu biểu:

  • Chùa Dâu (Thuận Thành): Xây dựng từ thế kỷ II sau Công nguyên tại cố đô Luy Lâu, trung tâm Phật giáo cổ nhất Việt Nam, bố cục "nội công ngoại quốc" với tháp Hòa Phong, nơi khởi nguồn tín ngưỡng Tứ Pháp.
  • Chùa Bút Tháp (Thuận Thành): Quần thể kiến trúc hoàn chỉnh thế kỷ XVII thời Hậu Lê với 9 đơn nguyên đăng đối trên trục linh đạo, lưu giữ tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay và tháp đá Báo Nghiêm.
  • Chùa Phật Tích (Tiên Du): Xây dựng năm 1057 thời vua Lý Thánh Tông, lưu giữ pho tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh thời Lý lớn nhất Việt Nam.
  • Đình Đình Bảng (Từ Sơn): Công trình kiến trúc gỗ thế kỷ XVIII mang dấu ấn mô phỏng nhà sàn truyền thống, thờ các vị thành hoàng và nhân vật lập làng.
  • Đền Đô (Từ Sơn): Xây dựng từ thế kỷ XI, nơi thờ 8 vị vua triều Lý (Lý Bát Đế).
  • Đền Bà Chúa Kho (TP. Bắc Ninh): Di tích tín ngưỡng gắn với địa danh Cổ Mễ và truyền thuyết về người phụ nữ quản lý quân lương thời Lý.
  • Văn miếu Bắc Ninh: Di tích tôn vinh truyền thống hiếu học, nơi lưu giữ 14 bia đá khắc tên 645 vị tiến sĩ quê hương Kinh Bắc trên tổng số 2.898 tiến sĩ Nho học của cả nước.

Về tài nguyên phi vật thể, tác giả tổng quan 4 nhóm tài nguyên:

  • Lễ hội truyền thống: Hội Lim (13 tháng giêng tại Tiên Du), Hội rước pháo Đồng Kỵ (mùng 4-6 tháng giêng tại Từ Sơn), Hội Diềm (mùng 6 tháng 2 âm lịch), Hội Dâu (mùng 8 tháng 4 âm lịch).
  • Văn nghệ dân gian: Dân ca Quan họ Bắc Ninh với 44 làng quan họ gốc, 200 làn điệu, hơn 500 bài hát dân ca (được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại năm 2009); nghệ thuật chèo Chải hê, trống cổ bộ.
  • Làng nghề truyền thống: Làng gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ (Từ Sơn), làng gốm Phù Lãng (Quế Võ, nguyên liệu đất sét hồng xã Việt Thống, men da lươn tự nhiên), làng tranh dân gian Đông Hồ (Thuận Thành, in khắc gỗ trên giấy dó quét điệp màu tự nhiên).
  • Văn hóa ẩm thực: Bánh phu thê Đình Bảng (gạo nếp cái hoa vàng, nhân đỗ xanh, hạt sen, quả dành dành), bánh tẻ làng Chờ (Yên Phong), nem Bùi (Bùi Xá, Ninh Xá, Thuận Thành).

Chương 2: Thực trạng khai thác loại hình du lịch văn hóa ở Bắc Ninh

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng khai thác hoạt động du lịch văn hóa tại các điểm đến cụ thể, đồng thời đánh giá tổng thể các yếu tố cấu thành hoạt động du lịch của tỉnh.

Về thực trạng lượng khách tại điểm di tích tiêu biểu, tác giả thu thập số liệu thống kê tại Chùa Dâu năm 2010 và quý I năm 2011:

Thời gian (Tháng/Năm) Tổng lượt khách du lịch Khách du lịch quốc tế
Tháng 1/2010 3.200 122
Tháng 6/2010 958 50
Tháng 7/2010 930 30
Tháng 8/2010 985 65
Tháng 9/2010 830 68
Tháng 10/2010 993 103
Tháng 11/2010 1.258 57
Tháng 12/2010 1.335 52
Tháng 1/2011 - 193
Tháng 2/2011 - 213
Tháng 3/2011 - 258
Tổng Quý I/2011 4.525 664

Số liệu trên phản ánh tính mùa vụ rõ rệt: khách du lịch tập trung cao điểm vào các tháng đầu năm (dịp Tết và mùa lễ hội), trong khi các tháng giữa năm lượng khách sụt giảm mạnh. Khách nội địa chiếm 90%, khách quốc tế chiếm tỷ lệ nhỏ (chủ yếu là khách lẻ từ Pháp, Đức, Mỹ). Thời gian lưu trú ngắn, phần lớn tham quan đi về trong ngày.

Tại di tích Chùa Bút Tháp, lượng khách tham quan nằm trong tuyến tour Đông Hồ - Lăng Kinh Dương Vương - Chùa Bút Tháp - Chùa Dâu - Luy Lâu đạt bình quân 57.000 lượt khách/năm, trong đó khách quốc tế đạt khoảng 6.000 lượt/năm.

Khóa luận chỉ ra các hạn chế trong thực trạng khai thác:

  • Công tác bảo tồn và hạ tầng di tích: Mặc dù dự án tôn tạo Chùa Dâu (theo Quyết định 1063/QĐ-CT ngày 07/10/2002 với tổng kinh phí hơn 10 tỷ đồng) đã hoàn thành 25 hạng mục vào năm 2006, một số hạng mục vẫn xuống cấp (mái ngói nhà tiền thất bị xô, dột cục bộ). Có 17 hộ dân sinh sống lấn chiếm khuôn viên Chùa Dâu chưa được giải tỏa. Năm 2007 xảy ra việc xây dựng tam quan Chùa Dâu sai quy định Luật Di sản văn hóa.
  • Dịch vụ du lịch và quản lý lễ hội: Doanh thu du lịch trực tiếp tại di tích rất thấp do sản phẩm bổ trợ nghèo nàn, quầy lưu niệm đơn điệu. Trong mùa lễ hội Chùa Dâu năm 2011 xuất hiện tình trạng tự ý tăng giá dịch vụ: vé giữ xe máy thu 15.000 đồng/xe (quy định 2.000 đồng), vé ô tô thu 50.000 đồng/xe (quy định 15.000 đồng), phí đổi tiền lẻ mất 30%, giá thực phẩm tăng cao không qua kiểm soát an toàn vệ sinh.
  • Nguồn nhân lực và quảng bá: Thiếu đội ngũ thuyết minh viên chuyên trách tại các di tích, thuyết minh chủ yếu do ban quản lý kiêm nhiệm; các làng nghề và lễ hội chưa có sự liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp lữ hành.

Chương 3: Một số giải pháp phát triển loại hình du lịch văn hóa ở Bắc Ninh

Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch văn hóa tại Bắc Ninh chia thành hai nhóm chính:

  1. Nhóm giải pháp phục hồi và phát huy giá trị văn hóa truyền thống:
  • Bảo tồn, tôn tạo di tích: Thực hiện quy hoạch tổng thể bảo tồn di tích theo đúng quy định của Luật Di sản văn hóa; ưu tiên nguồn vốn trùng tu các di tích xuống cấp nghiêm trọng; giải quyết dứt điểm tình trạng lấn chiếm đất đai tại khuôn viên di tích.
  • Khôi phục bản sắc lễ hội: Giữ gìn các nghi thức tế lễ cổ truyền, hạn chế tình trạng thương mại hóa, loại bỏ các hiện tượng tiêu cực trong mùa lễ hội.
  • Bảo tồn làng nghề và văn nghệ dân gian: Hỗ trợ nghệ nhân gìn giữ nghề làm tranh Đông Hồ, gốm Phù Lãng; mở rộng câu lạc bộ quan họ thực hành và truyền dạy làn điệu cổ cho thế hệ trẻ.
  1. Nhóm giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh du lịch:
  • Đa dạng hóa sản phẩm du lịch: Thiết kế sản phẩm du lịch trải nghiệm làng nghề, biểu diễn quan họ định kỳ tại di tích, kết hợp khai thác ẩm thực đặc sản (bánh phu thê, nem Bùi).
  • Xây dựng và liên kết tuyến điểm: Kết nối các tuyến du lịch văn hóa nội tỉnh (tuyến di tích lịch sử - tôn giáo, tuyến làng nghề - lễ hội ven sông Đuống, sông Cầu) và liên kết liên tỉnh với vùng phụ cận Hà Nội, Bắc Giang.
  • Liên kết loại hình du lịch: Kết hợp du lịch văn hóa tâm linh với du lịch sinh thái nông nghiệp và du lịch tham quan hội thảo.
  • Tăng cường tuyên truyền, quảng bá và đào tạo nguồn nhân lực: Biên soạn ấn phẩm giới thiệu di sản, xây dựng trang thông tin điện tử du lịch, tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ du lịch và kỹ năng thuyết minh cho cán bộ văn hóa cơ sở.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với dữ liệu khảo sát:

  • Hệ thống hóa danh mục 428 di tích xếp hạng cấp bộ và cấp tỉnh trên địa bàn 8 đơn vị hành chính của tỉnh Bắc Ninh tính đến tháng 8/2010.
  • Khảo sát và công bố dữ liệu lượng khách du lịch tại Chùa Dâu năm 2010 (chi tiết theo 8 tháng) và quý I năm 2011 (tổng 4.525 lượt khách, trong đó có 664 khách quốc tế); số liệu khách tham quan tuyến Chùa Bút Tháp (57.000 lượt/năm).
  • Ghi nhận chi tiết hiện trạng đầu tư 10 tỷ đồng trong dự án trùng tu 25 hạng mục di tích Chùa Dâu giai đoạn 2002 - 2006 và chỉ ra các vi phạm xây dựng di tích năm 2007.
  • Chỉ ra các số liệu thực tế về tình trạng tự phát tăng giá dịch vụ (giá gửi xe, ăn uống, đổi tiền lẻ) tại lễ hội Chùa Dâu năm 2011.

Đóng góp của nghiên cứu so với các tài liệu xuất bản trước đó: Nếu các công trình trước đây chỉ tiếp cận đơn lẻ một lễ hội (Hội Lim truyền thống và hiện đại, 2004), một loại hình nghệ thuật (Không gian văn hóa quan họ Bắc Ninh, 2006) hoặc thuần túy thống kê di tích (Các di tích lịch sử văn hóa Bắc Ninh, 2005; Quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích..., 2010), thì khóa luận này đã tổng hợp toàn diện các thành tố văn hóa (vật thể, lễ hội, làng nghề, văn nghệ dân gian, ẩm thực) dưới góc độ khai thác kinh tế du lịch văn hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận là công trình nghiên cứu đầu tay của sinh viên nên còn một số giới hạn:

  • Phạm vi khảo sát số liệu thực địa chi tiết về lượng khách và doanh thu chỉ tập trung được tại một số điểm di tích trọng điểm (Chùa Dâu, Chùa Bút Tháp), chưa thu thập được chuỗi số liệu định lượng đầy đủ của toàn bộ hệ thống di tích và làng nghề trên địa bàn tỉnh.
  • Các giải pháp đề xuất dừng lại ở định hướng chung về mặt quản lý văn hóa và phát triển tour tuyến, chưa xây dựng được phương án tài chính và mô hình kinh tế chi tiết cho từng điểm đến.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát định lượng hành vi, mức độ hài lòng và mức chi tiêu của khách du lịch văn hóa tại Bắc Ninh; xây dựng chuỗi giá trị liên kết du lịch giữa các làng nghề truyền thống vùng Kinh Bắc với các trung tâm phân phối khách du lịch lớn tại miền Bắc.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên các ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Việt Nam học, Quản lý Văn hóa khi nghiên cứu đề tài về khai thác di sản phục vụ du lịch.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và du lịch tại địa phương trong việc tham khảo tư liệu lịch sử, thực trạng quản lý di tích và lễ hội giai đoạn 2010 - 2011.
  • Phần có giá trị tham khảo nổi bật là hệ thống tư liệu tổng quan về đặc trưng kiến trúc các ngôi chùa, đình cổ, quy trình sản xuất của các làng nghề truyền thống (Đồng Kỵ, Phù Lãng, Đông Hồ) và cách chế biến các món ẩm thực dân gian Bắc Ninh.

Câu hỏi thường gặp

1. Tính đến tháng 8 năm 2010, toàn tỉnh Bắc Ninh có bao nhiêu di tích được xếp hạng và địa phương nào có nhiều di tích xếp hạng nhất?
Toàn tỉnh Bắc Ninh có 428 di tích được xếp hạng (gồm 191 di tích cấp bộ/quốc gia và 237 di tích cấp tỉnh). Trong đó, Thị xã Từ Sơn là địa phương có số lượng di tích xếp hạng nhiều nhất với 78 di tích (42 cấp bộ, 36 cấp tỉnh), tiếp theo là Thành phố Bắc Ninh với 76 di tích.

2. Số liệu lượng khách đến Chùa Dâu trong năm 2010 và quý I/2011 thể hiện đặc điểm gì?
Lượng khách đến Chùa Dâu có tính mùa vụ cao, tập trung đông nhất vào dịp lễ hội đầu năm (tháng 1/2010 đạt 3.200 lượt; quý I/2011 đạt 4.525 lượt khách). Khách du lịch nội địa chiếm tỷ trọng áp đảo (khoảng 90%), trong khi khách quốc tế chỉ chiếm khoảng 10% và chủ yếu là khách lẻ đến từ Pháp, Đức, Mỹ.

3. Khóa luận nêu ra những bất cập cụ thể nào trong công tác quản lý tại di tích Chùa Dâu?
Các bất cập gồm: hiện tượng xuống cấp cục bộ ở mái ngói tiền thất; 17 hộ dân sinh sống lấn chiếm khuôn viên chùa chưa được giải tỏa; vi phạm Luật Di sản văn hóa trong việc xây dựng tam quan năm 2007; và hiện tượng tự ý nâng giá trông xe máy (15.000 đồng so với mức 2.000 đồng), giá nước ngọt và dịch vụ đổi tiền lẻ lấy phí 30% tại lễ hội năm 2011.

4. Tranh dân gian Đông Hồ và gốm Phù Lãng sử dụng những chất liệu và kỹ thuật đặc trưng nào?
Tranh Đông Hồ được in khắc gỗ trên giấy dó quét bột điệp, sử dụng hoàn toàn màu sắc tự nhiên (xanh lá chàm, đỏ sỏi son, đen than lá tre, vàng hoa hòe, trắng vỏ điệp). Gốm Phù Lãng sử dụng đất sét hồng nhạt lấy từ xã Việt Thống, tạo hình trên bàn xoay thủ công, phủ men tự nhiên màu da lươn và đắp nổi hoa văn theo kỹ thuật chạm bong (chạm kép).

5. Dân ca Quan họ Bắc Ninh có quy mô bảo tồn như thế nào tại thời điểm nghiên cứu?
Theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Bắc Ninh trong khóa luận, tỉnh còn lưu giữ được 44 làng quan họ gốc đạt tiêu chuẩn có ít nhất 5 đời hát quan họ, với hơn 200 làn điệu và hơn 500 bài hát dân ca. Quan họ Bắc Ninh đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2009.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Vân đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và tiềm năng tài nguyên du lịch văn hóa phong phú của tỉnh Bắc Ninh bao gồm hệ thống di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, văn nghệ dân gian, làng nghề và ẩm thực. Tác giả đã phân tích thực trạng khai thác du lịch giai đoạn 2010 - 2011, chỉ rõ các hạn chế về cơ sở hạ tầng, tính mùa vụ, tình trạng thiếu hụt dịch vụ bổ trợ và những bất cập trong quản lý di tích, lễ hội. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hai nhóm giải pháp về bảo tồn di sản và phát triển chuỗi sản phẩm du lịch, cung cấp tư liệu tham khảo thực tiễn cho nghiên cứu du lịch văn hóa tại địa phương.