Chương I, Điều 19: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [25]. Như vậy, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau nhưng tựu chung đều thống nhất rằng du lịch là hoạt động rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của con người đến một nơi khác nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng… trong một khoảng thời gian nhất định. Sinh viªn: TrÇn ThÞ V©n - 17 - Líp: VH1102 Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p ph¸t triÓn lo¹i h×nh du lÞch v¨n ho¸ ë B¾c Ninh 1. Tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là loại tài nguyên có những đặc điểm giống như những loại tài nguyên nói chung, song có một số đặc điểm riêng gắn với sự phát triển của ngành Du lịch.
Khái niệm Tài nguyên du lịch theo Pirolnik: “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, trong cấu trúc nhu cầu hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kỹ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi [15, 57]. Theo các nhà khoa học du lịch Trung Quốc định nghĩa thì: “Tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành Du lịch, có thể sản sinh ra hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường đều có thể gọi là Tài nguyên du lịch” [3, 41]. Như vậy, Tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch càng phong phú đặc sắc, có mức độ tập trung cao thì càng có sức hấp dẫn với du khách và có hiệu quả kinh doanh du lịch cao.
Tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử, việc khai thác phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật, chính trị nên ngày càng được mở rộng. Do vậy, Tài nguyên du lịch bao gồm cả Tài nguyên du lịch đã, đang khai thác và Tài nguyên du lịch chưa được khai thác. Từ những khái niệm trên, có thể định nghĩa chung Tài nguyên du lịch là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra, có sức hấp dẫn du khách, có thể được bảo vệ, tôn tạo và sử dụng cho ngành Du lịch mang hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường [16, 20]. Sinh viªn: TrÇn ThÞ V©n - 18 - Líp: VH1102 Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p ph¸t triÓn lo¹i h×nh du lÞch v¨n ho¸ ë B¾c Ninh 1.
Du lịch văn hóa Du lịch văn hóa đang ngày một phổ biến trên thế giới và được chú trọng phát triển ở Việt Nam. Theo Luật Du lịch Việt Nam ban hành ngày 01/01/2006, du lịch văn hóa là “loại hình du lịch dựa vào việc khai thác các giá trị di sản văn hóa nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của nền văn hóa dân tộc, có sự tham gia của đông đảo cộng đồng”. Như vậy, di sản văn hóa là nhân tố cơ bản trong phát triển du lịch văn hóa. Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục., gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế.
Một trong những động cơ khiến con người đi du lịch là để tìm kiếm những điều mới lạ, mở rộng sự hiểu biết của bản thân mình. Hiển nhiên du lịch kể từ khi nó hình thành có sự gắn kết chặt chẽ với văn hóa bởi văn hóa giữa các vùng miền, giữa các khu vực là không giống nhau, luôn khơi gợi sự tò mò, kích thích sự khám phá. Như vậy du lịch được coi như hành vi thỏa mãn văn hóa và cụm từ “du lịch văn hóa” được hình thành như một loại hình du lịch mà điểm đến là những nơi chứa đựng giá trị văn hóa lâu đời như những công trình kiến trúc nghệ thuật, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, ẩm thực, lễ hội… Phát triển du lịch văn hóa sẽ góp phần giới thiệu giá trị nền văn hóa độc đáo của Việt Nam mấy nghìn năm văn hiến thông qua xúc tiến du lịch, tổ chức tạo sản phẩm phục vụ khách và tổ chức các chương trình du lịch. Bằng các ấn phẩm quảng cáo xúc tiến, vẻ đẹp về đất nước, con người Việt Nam sẽ được giới thiệu sâu rộng trong và ngoài nước.
Trong quá trình hoạt động, ngành Du lịch phải làm cho sản phẩm, dịch vụ của mình ngày càng chứa đựng nhiều hàm lượng văn hóa ngay từ quá trình xây dựng các công trình du lịch, tổ chức các dịch vụ khách sạn, hướng dẫn, giới thiệu tham quan, vui chơi giải trí và cả trong thái độ phục vụ khách. Như vậy không phải chỉ có ngành Du lịch giới thiệu nền văn hóa Việt Nam với khách, mà các ngành, địa phương và nhân dân nơi khách đến đều phải có trách nhiệm và truyền tải được giá trị độc đáo của bản sắc văn hóa nước ta Sinh viªn: TrÇn ThÞ V©n - 19 - Líp: VH1102 Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p ph¸t triÓn lo¹i h×nh du lÞch v¨n ho¸ ë B¾c Ninh đến với du khách quốc tế và đặc trưng riêng có của văn hóa mỗi vùng, miền, dân tộc đến với khách du lịch nội địa. Du lịch văn hóa còn tạo khả năng cho con người mở mang, tăng cường sự hiểu biết về lịch sử truyền thống, văn hóa, phong tục tập quán, đạo đức, chế độ xã hội.; làm giàu thêm khả năng thẩm mỹ, tôi luyện tình cảm, thoải mái tinh thần khi được tham quan kho tàng văn hóa nghệ thuật của đất nước, một vùng, một địa phương. Du lịch văn hóa còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn và nâng cao truyền thống dân tộc.
Thông qua chuyến đi du lịch mà con người được làm quen với cảnh đẹp, với lịch sử, văn hóa dân tộc, qua đó càng thêm yêu đất nước mình; cộng đồng dân cư địa phương cũng thấy được sự hấp dẫn của văn hóa bản địa, nhận thức ngày một sâu sắc về việc cần thiết phải bảo tồn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể địa phương mình, góp phần khai thác, bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc, bảo vệ và phát triển môi trường tự nhiên và xã hội. Bên cạnh đó, Du lịch văn hóa còn có vai trò quan trọng trong việc giáo dục tinh thần quốc tế, làm cho mọi người thấy cần thiết phải phát triển và củng cố các mối quan hệ quốc tế, làm cho các dân tộc gần gũi nhau hơn, góp phần bình thường hóa quan hệ, giữ gìn, củng cố hoà bình và tăng thêm tình hữu nghị giữa các dân tộc, tăng cường sự hợp tác, hội nhập trên mọi lĩnh vực vì lợi ích phát triển chung. Di sản văn hóa chính là nguồn Tài nguyên du lịch văn hóa. Nói như vậy không có nghĩa tất cả di sản văn hóa đều trở thành Tài nguyên du lịch văn hóa, mà trên thực tế, chỉ có những di sản văn hóa có sức hấp dẫn nhất định và có thể khai thác tốt cho hoạt động du lịch mới được gọi là Tài nguyên du lịch văn hóa.
Nếu như di sản văn hóa được phân loại thành di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, thì Tài nguyên du lịch văn hóa cũng được phân chia thành Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể và Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể. Việc hình thành các sản phẩm du lịch văn hóa như thế nào là phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm, tính chất, thể loại di sản văn hóa đó; hay nói cách khác, sản phẩm du lịch có hấp dẫn khách du lịch hay không thì chính di sản văn hóa đóng vai trò quyết định: di sản văn hóa tạo nên sự phong phú, đa dạng của sản Sinh viªn: TrÇn ThÞ V©n - 20 - Líp: VH1102 Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p ph¸t triÓn lo¹i h×nh du lÞch v¨n ho¸ ë B¾c Ninh phẩm du lịch. Muốn du lịch văn hóa phát triển, không thể không dựa vào việc khai thác giá trị các di sản văn hóa. Để du lịch văn hóa thực sự hấp dẫn thì trước hết phải xác định giá trị của mỗi di sản văn đối với hoạt động du lịch, tiếp theo là phải có sự đầu tư đúng mức để di sản văn hóa trở thành sản phẩm du lịch văn hóa.
Ngược lại, một phần lợi nhuận từ du lịch đem lại cần phải được đầu tư trở lại cho di sản văn hóa (nhằm phục vụ công tác bảo tồn di sản…). Đó là sự phát triển du lịch bền vững. Giới thiệu về Tài nguyên du lịch văn hóa Bắc Ninh 1. Di tích lịch sử văn hóa Bắc Ninh là mảnh đất hàng ngàn năm văn hiến và đã để lại “kho báu” di sản văn hóa to lớn thông qua hệ thống di tích.
Hiện theo thống kê bước đầu, toàn tỉnh Bắc Ninh có gần 1.300 di tích, phân bố khắp cả 8 huyện, thị (thành phố) và đậm đặc cả các làng xã cổ. Theo luật di sản văn hóa, các di tích được phân thành các loại hình khác nhau như: lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ học. Đối với Bắc Ninh thì loại hình di tích nào cũng có, song thuộc loại hình lịch sử là nhiều hơn cả. Tính đến tháng 8 năm 2010, tỉnh Bắc Ninh có 428 di tích đã được Nhà nước xếp hạng, cụ thể như sau: TT Tên huyện, thị Cấp bộ Cấp tỉnh Tổng số 1 Thành phố Bắc Ninh 41 35 76 2 Huyện Quế Võ 9 19 28 3 Huyện Tiên Du 23 29 52 4 Thị xã Từ Sơn 42 36 78 5 Huyện Thuận Thành 24 29 53 6 Huyện Gia Bình 10 33 43 7 Huyện Lương Tài 10 26 36 Cộng 191 237 428 (Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Bắc Ninh) Sinh viªn: TrÇn ThÞ V©n - 21 - Líp: VH1102 Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p ph¸t triÓn lo¹i h×nh du lÞch v¨n ho¸ ë B¾c Ninh Những năm gần đây, đặc biệt trong dịp đại lễ nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, khách tham quan khắp mọi miền trong nước và quốc tế đã tìm về Bắc Ninh thăm quan những di tích tiêu biểu ngày một nhiều.