CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ THỂ THAO HỌC ĐƯỜNG 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm “hoạt động truyền thông” - Khái niệm “Truyền thông”: Truyền thông (tương đương với thuật ngữ “communication” trong tiếng Anh) là một quá trình truyền đạt thông tin căn bản của bất cứ một tổ chức nào mang tính xã hội. Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời và phát triển song song với quá trình phát triển của xã hội loài người và có tác động tới mọi cá thể trong xã hội.
Theo các nhà khoa học, có đến 160 khái niệm về truyền thông được sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trên toàn thế giới. Truyền thông được thực hiện thông qua lời nói, ngôn ngữ nhưng những hành động thông qua cử chỉ, điệu bộ, nét mặt cũng có thể được coi là một quá trình truyền đạt thông tin. Theo cuốn Truyền thông đại chúng xuất bản năm 2001 của PGS.TS Tạ Ngọc Tấn: “Truyền thông là sự trao đổi thông tin giữa các thành viên hay nhóm người trong xã hội, nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau” [32, tr.8] Trong cuốn Truyền thông Lý thuyết và kỹ năng cơ bản của PGS. Nguyễn Văn Dững và TS.
Đỗ Thị Thu Hằng, khái niệm truyền thông được các tác giả đưa ra như sau: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm,.chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của các cá nhân, nhóm, cộng đồng, xã hội”.15] 18 Có thể thấy, tại Việt Nam, các định nghĩa về truyền thông xuất hiện khá muộn và đều có điểm chung là coi truyền thông là một quá trình nhằm truyền đạt thông tin giữa hai người hoặc nhiều người. Mục đích của quá trình này là truyền đạt thông điệp, tri thức nào đó nhằm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi. Trên thế giới, định nghĩa về truyền thông được đưa ra khá sớm và cũng được nhiều học giả đề cập tới với các góc nhìn khác nhau: Cuốn Giáo trình lý thuyết truyền thông của tác giả Lương Khắc Hiếu đề cập đến khái niệm truyền thông dựa trên góc độ quá trình truyền tải của hai học giả Berelson và Steiner: “Truyền thông là sự chuyển tải thông tin, ý tưởng, tình cảm, kỹ năng,. bản thân hành động của quá trình truyền tải được gọi là truyền thông” [15, tr.13] Cũng trong Giáo trình lý thuyết truyền thông, khái niệm truyền thông dựa trên góc độ ký hiệu lời của John R.
Hober (1954) là “sự trao đổi với nhau tư duy hoặc ý tưởng bằng lời” chính là quá trình truyền thông.12] Theo nhà nghiên cứu Wolton: “Truyền thông là mối quan hệ ở khắp mọi nơi, liên kết những thành viên cùng một xã hội hoặc giữa những xã hội với nhau trong một cuộc trao đổi thông tin thường xuyên.16] Trong luận án “Hoạt động truyền thông của các cơ quan hành chính nhà nước cấp Trung ương tại Việt Nam”, tác giả Nguyễn Thị Minh Hiền đã nêu ra luận điểm của Uma Narula, cho rằng truyền thông dù được định nghĩa theo nhiều góc nhìn khác nhau nhưng hầu hết các định nghĩa đều chỉ ra những điểm chung thống nhất như sau: “Truyền thông của con người là một quá trình truyền tải ý tưởng thông qua cảm xúc và hành vi từ người này sang người khác; Hay: Truyền thông là thuyết phục và tìm cách nhận được phản hồi mong muốn cho những thông điệp đang được truyền đi; 19 Hay: Truyền thông không tuyến tính nhưng là một quá trình hai chiều và đa chiều.38] Mỗi định nghĩa về truyền thông đều có những khía cạnh hợp lý. Tuy nhiên các định nghĩa, quan niệm này dù khác nhau về góc nhìn nhưng vẫn có những điểm tương đồng. Về bản chất, truyền thông là quá trình trao đổi, chia sẻ thông tin diễn ra liên tục giữa hai hoặc nhiều người. Quá trình này được biểu hiện qua các phương tiện truyền thông.
Về mục đích, truyền thông nhằm hướng đến sự hiểu biết chung, từ đó dẫn đến những sự thay đổi về nhận thức, hành vi của đối tượng truyền thông và tạo ra giá trị. - Khái niệm “hoạt động”: Theo Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2003, “hoạt động” là “tiến hành những việc là có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội” [28, tr. Hoạt động luôn phải có mục đích, có chủ thể là con người và khách thể là đối tượng của hoạt động. - Khái niệm “hoạt động truyền thông”: Công việc của các nhà làm truyền thông khá nhiều và phức tạp.
Tùy theo từng ngành khác nhau mà công việc của các nhà làm truyền thông cũng khác nhau. Theo nghiên cứu của Tymson và Lazar, công việc của các nhà làm truyền thông có thể bao gồm nhiều công việc như: Tư vấn dựa trên sự hiểu biết về hành vi con người; Phân tích xu hướng tương lai và tư vấn về hậu quả; Nghiên cứu dư luận, thái độ, và kỳ vọng, và tư vấn về hành động cần thiết; Thiết lập và duy trì liên lạc hai chiều với công chúng dựa trên sự thật và thông tin đầy đủ; Ngăn chặn xung đột và sự hiểu lầm; Tôn trọng lẫn nhau và thúc đảy trách nhiệm xã hội; Hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức và công chúng; Nâng cao thiện chí với các nhân viên, nhà cung cấp và khách hang; Thu hút nhân tài; Quảng bá sản phẩm, dịch vụ, 20 tăng lợi nhuận doanh nghiệp (được dịch bởi tác giả Nguyễn Thị Minh Hiền, 2019, [tr. Hiện nay chưa có một khái niệm cụ thể, riêng biệt về hoạt động truyền thông. Tuy nhiên dựa trên những quan điểm của các học giả về công việc của các nhà làm truyền thông và khái niệm về “hoạt động” - “truyền thông”, tác giả luận văn cho rằng hoạt động truyền thông bao gồm nhiều hoạt động cụ thể khác nhằm xác định đối tượng nhắm tới, xác định thông điệp và kênh truyền tải thông điệp đó sao cho hiệu quả nhất để từ đó thực hiện hoạt động truyền thông, đo lường, thống kê được phản hồi của đối tượng mục tiêu và có những điều chỉnh phù hợp hơn.
Hoạt động truyền thông diễn ra ở nhiều cấp độ: cá nhân, nhóm, đại chúng. Hoạt động truyền thông giúp cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tuyên truyền, quảng bá cho sản phẩm, dịch vụ và hình ảnh của họ. Hoạt động này chủ yếu nhằm mục đích tạo ra các thông điệp và nội dung truyền thông thu hút, từ đó dẫn đến sự thay đổi về suy nghĩ và hành vi của công chúng mục tiêu. Thông qua hoạt động truyền thông, các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sẽ đến gần hơn với công chúng và công chúng cũng được trải nghiệm, tiếp xúc và hiểu hơn về sản phẩm được truyền thông.
Hoạt động truyền thông được tiến hành theo trình tự, kế hoạch đã được xác định và dưới sự giám sát của những người làm truyền thông. Khái niệm “thể thao học đường” Trên thế giới, một số định nghĩa về thể thao học đường được biết đến như: định nghĩa của Hiệp hội Giáo dục Thể chất (afPE) Vương quốc Anh. Theo hiệp hội, thể thao học đường vừa là hoạt động học tập, vừa là hoạt động thể chất có tổ chức diễn ra ngoài chương trình giảng dạy chính trong môi trường trường học. Thể thao học đường cũng tạo thành một liên kết quan trọng với các hoạt động thể thao cộng đồng khác.
[44] 21 Hiệp hội Thể thao học đường Australia cho rằng thể thao học đường là hoạt động được thực hiện trong bối cảnh giáo dục, tập trung vào phát triển thể chất cho học sinh. Thể thao học đường bao gồm nhiều môn thể thao, bao gồm sự kết hợp giữa các môn thể thao đồng đội và cá nhân và do các cán bộ có trình độ chuyên môn tổ chức và quản lý. [45] Tại Việt Nam, thuật ngữ thể thao học đường chưa có một định nghĩa cụ thể dù ta thấy đây là thuật ngữ được sử dụng ngày một nhiều trong các vấn đề, sự kiện liên quan đến giáo dục cho học sinh - sinh viên. Trong cuốn Giáo trình lý luận và phương pháp thể dục thể thao do PGS.
Nguyễn Toán và TS. Nguyễn Sĩ Hà biên soạn có đề cập đến vấn đề khó khăn trong công tác hệ thống hóa, chuẩn mực hóa các thuật ngữ liên quan đến thể dục thể thao, đặc biệt là thuật ngữ thể thao. Bởi vậy, cho đến nay tại Việt Nam chưa có sự thống nhất nào về định nghĩa chính xác của khái niệm thể thao hay thể thao học đường để phân biệt chúng với các hoạt động giải trí khác. Tuy nhiên, từ những quan niệm về thể thao học đường trên thế giới kết hợp cùng quan sát thực tiễn xã hội, tác giả luận văn cho rằng: “Thể thao học đường là tập hợp các hoạt động thể chất mang tính chất giáo dục dành cho học sinh - sinh viên các cấp; được tổ chức bởi các đơn vị, cán bộ có chuyên môn trong và ngoài thời gian học tập trên lớp nhằm mục đích giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao thể chất cũng như tinh thần của học sinh - sinh viên.
Khái niệm “quản trị hoạt động truyền thông về thể thao học đường” Định nghĩa về quản trị được đề cập trong cuốn Tinh hoa quản trị của Drucker như sau: “Quản trị bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin nhiều chiều. Quản trị là một quá trình thông tin. Quản trị là một tiến trình năng động.9] 22 Giáo trình Quản trị chiến lược của tác giả Nguyễn Ngọc Sơn đề cập đến định nghĩa của Theo A.Thietart về quản trị như sau : “Quản trị là một hành động, một nghệ thuật, một cách thức lãnh đạo, lập kế hoạch phát triển và kiểm soát một tổ chức.9] Trong Giáo trình quản trị học, những vấn đề cơ bản xuất bản năm 2012, PGS.TS Hà Văn Hội định nghĩa quản trị như sau: “Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong một môi trường luôn luôn biến động” [17, tr. Trong Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam xuất bản năm 2019: “Quản trị là hoạt động quản lý của một xí nghiệp hay của một tổ chức kinh doanh, bao gồm quản lý các mặt sản xuất và kỹ thuật, tài chính và kế toán, thương mại, hành chính, nhân sự” [18, tr.