Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN TRỊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TƯ THỤC THEO HƯỚNG KHÔNG VÌ LỢI NHUẬN 1. Những nghiên cứu về mô hình các trường đại học tư thục Tính đa dạng là đặc điểm nổi bật nhất của mô hình trường ĐHTT. Mô hình này dựa trên 4 yếu tố: vai trò, động lực, quyền sở hữu và quản lý. Mô hình cũng chỉ rõ về hình thức tuyển sinh khác nhau, với những tiêu chí tuyển chọn riêng.
Một số trường có thể không yêu cầu đầu vào cao, hoặc có thể là yêu cầu về chuyên môn, số khác thì tuyển học sinh dựa trên yêu cầu về chất lượng. Một mô hình trường ĐHTT lí tưởng được xây dựng trên tiêu chí: đào tạo được ra những người tài, đáp ứng được nhu cầu đầu vào cho số lượng lớn sinh viên và các điều khoản khác về tôn giáo (Levy,1986). Mặc dù đã trải qua hàng thế kỉ với sự thay đổi, phát triển vượt trội của hệ thống giáo dục ĐHTT, một số mô hình trường ĐH tư vẫn phù hợp và đảm bảo chất lượng. Có những loại mô hình như: ĐH tinh hoa (đào tạo số lượng ít học sinh nhưng có đầu ra chất lượng cao)/ ĐH bán tinh hoa (đào tạo số lượng học sinh vừa phải với chất lượng đầu ra khá hoặc đào tạo cả những học sinh giỏi và số đông học sinh học theo nhu cầu), ĐH tôn giáo/ văn hoá và ĐH đại chúng (giáo dục phổ cập cho số đông), cùng với đó là một số vấn đề nan giải liên quan đến lợi nhuận thu được, mối quan hệ giữa các trường công-trường tư (Levy,1996).
Hệ thống giáo dục ĐHTT bao gồm chủ yếu là ba loại mô hình này, đây cũng là 3 loại mô hình phổ biến, tạo nên xu hướng đa dạng. Tuy nhiên, không có mô hình nào là hoàn hảo khi mà các trường ĐH chưa có sự kết hợp thực sự đúng đắn. Mô hình ĐH tư thục trên thế giới rất đa dạng nhưng chủ yếu được chia thành 2 loại hình cơ bản như sau: Loại hình đại học tư thục không vì lợi nhuận: Đặc trưng cơ bản về mặt kinh tế, pháp lý và cấu trúc tổ chức của một đơn vị hoạt động “không vì lợi nhuận” là: (1) Không được chia lợi nhuận cho một ai; (2) Không có “chủ sở hữu” hay “nó sở hữu chính nó”, không có nhà đầu tư, có thể nói 10 tài sản là thuộc “sở hữu công cộng”, nguồn vốn chủ yếu là từ cho tặng và học phí; và (3) Thường không được quản trị bởi một Hội đồng đại diện cho những nhóm có lợi ích liên quan. Không vì lợi nhuận cũng có nghĩa tài sản ở đây không thuộc Nhà nước mà cũng chẳng thuộc cá nhân nào, tức là không có chủ sở hữu và cũng không có cổ đông, vì vậy không có ai được chia lợi nhuận từ hoạt động của trường ĐH.
Trong nền kinh tế thị trường, lập luận này nghe như vô lý nhưng loại hình ĐH này rất phổ biến trên thế giới đặc biệt là ở Mỹ, Nhật Bản. Những ĐHTT KVLN có Hội đồng quản trị để đề ra phương hướng phát triển chung của trường. Hội đồng này gồm những người thành đạt, có uy tín ở nhiều lĩnh vực khác, chứ không thuần túy là người có tiền góp vào trường. Các trường ĐH này có quỹ bảo trợ, tiền lãi từ đầu tư của quỹ, cộng với tiền đóng góp của bảo trợ viên dùng làm chi phí cho hoạt động của trường.
Tuy nhiên, không vì lợi nhuận có nghĩa là đơn vị đó không được phép tạo ra lợi nhuận và thu nhập không bao giờ được vượt quá chi phí. Một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc “không vì lợi nhuận” vẫn có thể được hoạt động có thu nhập như: nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, cung cấp các dịch vụ theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Mô hình ĐHTT KVLN chiếm vị trí chi phối trong hệ thống ĐH ở Mỹ và Nhật Bản, có đến hơn 90% SV tư thục ở Mỹ và một tỷ lệ khá lớn ở Nhật Bản đang học ở các trường tư tổ chức theo loại hình phi lợi nhuận. Vào những năm 1980, ở Mỹ có khoảng 3.500 cơ sở đào tạo ĐH và cao đẳng, lượng trường công do chính quyền tiểu bang, quận, thành phố lập và quản lý chiếm khoảng 45% trong tổng số (không có ĐH công lập của Liên bang, mà chỉ có trường do chính quyền địa phương, các bang sáng lập và quản lý), ở đó SV chi trả một tỷ lệ cao nhất cho học phí là bằng 5-10% chi phí đơn vị.
Bên cạnh đó, có tới 46% là trường của các tổ chức tư nhân hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận, phần còn lại là trường của một chủ sở hữu hoạt động vì lợi nhuận. Học phí mà SV các trường ĐH tư thục không vì lợi nhuận phải đóng góp là rất lớn nhưng cũng chỉ bằng khoảng 30% chi phí đơn vị. Loại hình đại học tư thục hoạt động vì lợi nhuận: 11 Loại hình ĐH này được chia thành 3 nhóm khác biệt, theo mức độ điều tiết và mục đích hoạt động: Một là, ĐH thuộc các công ty lớn: Mục đích của các ĐH dạng này là để đào tạo bồi dưỡng nhân lực cho chính công ty của mình và một phần cho xã hội. Họ sẽ nhận được lợi ích lớn hơn trong tương lai nhờ danh tiếng của tập đoàn, của nhà trường và khi SV đi làm thông qua việc tăng năng suất lao động, tạo ra giá trị thặng dư cao hơn cho công ty.
Hai là, ĐH tư thục vì lợi nhuận một phần: Loại hình này phổ biến ở các nước châu Á nhưng có những ràng buộc rất chặt chẽ của Chính phủ như khống chế mức trần học phí để trường học không chạy theo mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Do vậy, các trường ĐH dạng này được thành lập nhưng quy mô không lớn và ít có uy tín trong xã hội. Ba là, ĐH tư thục hoạt động hoàn toàn vì mục đích lợi nhuận: Đây thực sự là những công ty giáo dục như: Apollo Group Inc của Anh, Career Education Corp Inc của Mỹ. Đa số các ĐH tư thục vì lợi nhuận là loại hình doanh nghiệp có chủ sở hữu được tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường với mục đích kinh doanh vì lợi nhuận.
Các trường ĐH hoạt động vì lợi nhuận ở Mỹ được Chính phủ khuyến khích thành lập nhưng chỉ chiếm khoảng 9% về mặt số lượng trường học và SV chiếm khoảng 2% trong tổng số. Hầu như không có một ĐH nào vì mục đích lợi nhuận mà phát triển có uy tín ở Mỹ, trừ những trường dạy nghề. Hệ thống giáo dục của Anh có 111 trường ĐH nhưng chỉ có một trường tư thục (ĐH Buckingham), ở Australia có khoảng 30 trường ĐH thì chỉ có 10% là trường tư thục với quy mô rất nhỏ. Mặc dù hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận nhưng các trường này cũng chủ yếu chú trọng vào việc giảng dạy một số ngành đang hút khách như: Ngoại ngữ, Luật, Kinh doanh và Công nghệ thông tin, ít đi sâu vào đào tạo các ngành nghiên cứu, khoa học công nghệ đòi hỏi máy móc kỹ thuật cao, cơ sở thí nghiệm hiện đại vì đầu tư như thế sẽ không thu hồi được vốn nhanh.
Trong khi đó, ở một số nước châu Á loại hình trường ĐH hoạt động trên cơ sở vì lợi nhuận lại chiếm phần lớn và còn có thêm cả loại hình “nửa lợi nhuận” hay có một mức lợi nhuận thích hợp (bởi vì mức học phí và lợi nhuận bị Chính phủ 12 khống chế). Chính vì bị đặt dưới sự kiểm soát rất chặt chẽ của Chính phủ, từ đánh giá kiểm định chất lượng và phân loại đến hệ thống phân chia lợi nhuận để đảm bảo phát triển đúng hướng, chứ không được tự do nhiều như các doanh nghiệp thuần túy, cho nên đa số các trường ĐH không hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Nghiên cứu của Đào Văn Khanh, MBA trường ĐH RMIT (Australia) trong “Tự trị ĐH: Câu chuyện từ Australia”. “Mô hình nào cho tự trị ĐH Việt Nam”.
Tác giả đã đưa ra 5 mô hình phổ biến: - Mô hình công ty (business model): Mô hình này tập trung ủng hộ ý tưởng của việc thành lập hội đồng quản trị năng động có cơ cấu nhỏ gọn và linh hoạt bên trong, nhấn mạnh vào khía cạnh quản lý tài chính và lợi nhuận cho các cổ đông thành viên (shareholders). Mô hình này gặp phải nhiều chỉ trích vì ưu tiên hàng đầu của nó là lợi nhuận chứ không phải chất lượng đào tạo. - Mô hình đối tác truyền thống (traditional stakeholder model): Mô hình này góp tiếng nói vào lợi ích của các cơ sở giáo dục ĐH công lập, bao gồm người dạy và người học. Tuy nhiên, mô hình này cũng bị chỉ trích vì gây trở ngại trong việc quản trị và quản lý một cách hiệu quả thông qua quá trình làm giảm/chậm đi/ hoặc tránh né những quyết định chiến lược quan trọng.
- Mô hình ủy trị (trusteeship model): Mô hình này thể hiện ở chỗ quản trị nhà trường không phải vì mục tiêu lợi nhuận (not-for-profit). Phương pháp tiếp cận này chỉ ra rất rõ các mục tiêu phi lợi nhuận nằm trong số mục tiêu chính của nhà trường. Tuy nhiên, mô hình này lại ủng hộ quản trị hiệu quả và cấu trúc quản lý để đạt được mục tiêu tổng thể của nhà trường trong việc học tập, giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng. - Mô hình cân bằng (Equalizer model): Mô hình này là sự kết hợp của nhiều mô hình khác nhau cùng tồn tại và được điều chỉnh “âm lượng” theo từng thời điểm thích hợp.
Tác giả cũng đưa ra Kinh nghiệm mô hình Hội đồng trường ở Austrialia: Khi nói đến quản trị ĐH, trước tiên phải nói Hội đồng trường (HĐT). Nhằm minh bạch hóa công tác điều hành, chủ tịch HĐT (Chancellor) sẽ chỉ định Hiệu trưởng/giám đốc điều hành (Vice-Chancellor/President). Hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng và 13 nhóm cộng sự điều hành (executive officers) sẽ phụ trách công tác quản lý thường nhật của nhà trường (day-to-day management). Đào Văn Khanh (2004), Bàn về tự chủ và phân cấp quản lý đào tạo trong trường đại học trong đó tác giả đã đề cập đến hệ thống quản lý đại học công lập và tư thục và vấn đề phân quyền quản lý đào tạo.
Tác giả đã làm rõ điểm mạnh và yếu của hai hệ thống quản lý đại học tập trung và phân cấp theo ma trận SWOT như sau: Quản lý đại học tập trung Điểm mạnh Điểm yếu Cơ hội Nguy cơ/Thách thức - Hình thành và ổn - Ôm đồm, quan - Xây dựng Tụt hậu và thụt lùi nếu định rất lâu. liêu, cơ chế xin- chiến lược so với các nước trong - Thể hiện vai trò cho, cản trở sự giáo dục tập khu vực.