phần mở đầu, kết luận và 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng đội ngũ giảng viên Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng đội ngũ giảng viên tại cơ sở 2 – Đại học giao thông vận tải Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ giảng viên tại cơ sở 2 – Đại học giao thông vận tải 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Giáo dục đại học 1. Khái niệm “Giáo dục đại học” đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. “Đại học” (higher education), không chỉ có nghĩa là một cấp học cao hơn trong cấu trúc giáo dục của một quốc gia, ý nghĩa của nó rộng hơn thế nhiều.
Xét về cấp bậc, giáo dục đại học bao gồm việc giảng dạy và học tập ở cao đẳng và đại học nhằm giúp sinh viên có đƣợc tấm bằng của bậc đại học. Giáo dục đại học truyền tải cho ngƣời học những kiến thức và sự hiểu biết sâu sắc nhằm giúp họ đạt tới những giới hạn mới của tri thức trong từng lĩnh vực khác nhau của cuộc sống. Sinh viên đƣợc tạo mọi điều kiện để phát triển khả năng tự đặt ra những câu hỏi và tìm kiếm chân lí. Họ cũng sẽ đƣợc trau dồi để có và tăng khả năng phân tích, tổng hợp và phản biện về những vấn đề thực tiễn.
Đại học không chỉ mở rộng năng lực trí tuệ của mỗi cá nhân trong lĩnh vực chuyên môn đƣợc đào tạo mà còn giúp họ mở rộng tầm nhìn và hiểu biết đối với thế giới khách quan. Có nhiều quan niệm mới về giáo dục đại học hiện đại, điển hình là học giả Ronald Barnett, trong tác phẩm “Improving Higher Education” (1992) của mình ông đƣa ra 4 khái niệm thông dụng nhất làm cơ sở cho phƣơng pháp tiếp cận hiện đại về giáo dục đại học [1;18-19]. Giáo dục đại học là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực đạt chuẩn. Theo quan điểm này, giáo dục đại học là một quá trình trong đó ngƣời học đƣợc quan niệm nhƣ những sản phẩm đƣợc cung ứng cho thị trƣờng lao động.
Nhƣ vậy, giáo dục đại học trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trƣởng của nền kinh tế. Giáo dục đại học là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu. Theo cách nhìn này, giáo dục đại học là thời gian chuẩn bị để tạo ra những nhà khoa học và nhà nghiên cứu thực thụ, những ngƣời sẽ không ngừng tìm những chân trời kiến thức mới. Chất lƣợng ở đây hƣớng về việc tạo ra các công bố khoa học và tinh thần làm việc nghiêm ngặt để thực hiện các nghiên cứu có chất lƣợng.
Giáo dục đại học là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả. Rất nhiều ngƣời cho rằng giảng dạy là hoạt động cốt lõi của một cơ sở giáo dục. Do vậy, các cơ sở giáo dục đại học thƣờng chú trọng quản lý một cách hiệu quả các hoạt động dạy và học bằng cách nâng cao chất lƣợng giảng dạy và nâng cao tỷ lệ kết thúc khóa học của sinh viên. Giáo dục đại học là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học.
Theo cách tiếp cận này, giáo dục đại học đƣợc xem nhƣ một cơ hội để ngƣời học đƣợc tham gia vào quá trình phát triển bản thân bằng các thể thức học tập thƣờng xuyên và linh hoạt. Sau khi xem xét, tôi nhận thấy có mối liên hệ bổ trợ lẫn nhau giữa bốn khái niệm này của giáo dục đại học; chúng liên quan và tích hợp với nhau để tạo ra bức tranh toàn cảnh về tính chất riêng biệt của giáo dục đại học (higher education) khiến cho nó xứng đáng đƣợc gọi là “đại” (học). Từ đó, khi nhìn vào hoạt động của các trƣờng đại học và cao đẳng, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra ba chức năng cơ bản cấu thành giáo dục đại học, đó là giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng. Vai trò của giáo dục đại học Nhƣ chúng ta đều biết, và sẽ đồng ý, giáo dục nói chung, và giáo dục đại học nói riêng, là những thành phần quan trọng trong sự phát triển của xã hội chúng ta.
Với sự tham gia và đóng góp của tất cả các nguồn lực, giáo dục đại học là việc làm khó khăn đã và đang đƣợc tiến hành. Công việc khó khăn ấy mang tính quyết định đến sự phát triển xã hội của chúng ta. Trong đó, sự hợp tác, trao đổi ý tƣởng và kinh nghiệm của tất cả các lực lƣợng tham gia vào trong giáo dục đại học là vô cùng quan trọng, bởi nó cho thấy rằng liệu giáo dục có đáp ứng đƣợc những thách thức của một xã hội ngày càng hiện đại và luôn năng động, xã hội mà những biến số liên tục thay đổi. Trong thực tế, việc duy trì chất lƣợng đại học là tối quan trọng, nó có ý nghĩa và góp phần hiệu quả vào sự phát triển của xã hội: ví dụ một nghiên cứu kém chất lƣợng là một sự tai hại cho xã hội.
Chất lƣợng đại học đƣợc đánh giá 5 khi nó hoàn thành chức năng trí thức (nghiên cứu và giảng dạy) và chức năng giáo dục của mình (gieo trồng, nuôi dƣỡng trí tuệ, truyền tải những ý tƣởng cơ bản và khái niệm). Nếu chúng ta chấp nhận, mà thực tế chúng ta phải nhƣ thế; rằng giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng là rất cần thiết cho sự phát triển, nghĩa là, nó nâng cao chất lƣợng cuộc sống và hạnh phúc của con ngƣời. Những khó khăn chủ yếu mà các trƣờng đại học phải đối mặt là làm thế nào để chứng minh những gì mà các chức năng trí thức và giáo dục của tổ chức đã làm là góp phần vào sự phát triển của xã hội. Làm cách nào và bằng cách nào mà trƣờng đại học đã chuyển tải đƣợc các kết quả vào đời sống thực.
Vai trò xã hội của trƣờng đại học đƣợc thể hiện và nhấn mạnh một cách sinh động qua mối quan hệ của giáo dục đại học và xã hội - giáo dục đại học và sự phát triển cao hơn. Vai trò xã hội là mắt xích giữa vai trò trí thức và giáo dục của đại học và sự phát triển của xã hội. Trong xã hội công nghiệp mắt xích này đã đƣợc thừa nhận, xác định mạnh mẽ tính quan trọng, cần thiết và thích hợp của giáo dục đại học. Trong bài nghiên cứu này tôi rút ra các chức năng xã hội của giáo dục đại học qua hai kênh hoạt động chính của nó.
Chức năng thứ nhất: Quá trình đào tạo ra các sinh viên tốt nghiệp để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho các tổ chức kinh doanh, các ngành công nghiệp và dịch vụ (bao gồm cả các dịch vụ công cộng); Cung ứng một loạt các dịch vụ cho một khu vực hay một cộng đồng cụ thể bằng nhiều hình thức. Ví dụ nhƣ sự mở rộng các chƣơng trình giành cho ngƣời trƣởng thành, nhƣ các khóa học bồi dƣỡng, tƣ vấn, dịch vụ kỹ thuật và nghệ thuật ….với tính chuyên nghiệp cao trong mọi lĩnh vực. Chức năng thứ hai: Tiến đến tận cùng biên giới của tri thức thông qua nghiên cứu. Trong vai trò này trƣờng đại học phải thể hiện đƣợc tính vƣợt trội bằng hiệu suất hoạt động và tính phù hợp trong công việc của nó với môi trƣờng mà trong đó nó tồn tại và hoạt động nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế của xã hội 6 và xây dựng một trật tự xã hội công bằng hơn, giảm thiểu những khác biệt về văn hóa xã hội.
Chất lượng giáo dục đại học Khái niệm chất lượng, giống nhƣ khái niệm tự do hoặc công bằng, là một khái niệm khó nắm bắt. Mỗi chúng ta đều dễ dàng hiểu nó có nghĩa gì nhƣng rất khó để nói rõ nó là gì. Theo Karapetrovic và Willborn (1997) xác định chất lƣợng là “khả năng của một sản phẩm để đáp ứng các yêu cầu đã được quy định hay ngụ ý” [2;14]. Các khái niệm truyền thống về chất lƣợng thƣờng gắn liền với khái niệm cung cấp một sản phẩm hoặc dịch vụ khác biệt và đặc biệt, tạo ra sự khác biệt cho chủ sở hữu hoặc ngƣời sử dụng, vì những tiêu chuẩn rất cao đƣợc thiết lập từ nhà sản xuất, nhà phân phối hay nhà trƣng bày.
Vì để đạt đƣợc sản phẩm hay dịch vụ đó phải cần đến chi phí rất lớn hoặc sử dụng các nguồn tài nguyên khan hiếm. Do đó, đƣa nó ra khỏi tầm với của đại đa số ngƣời tiêu dùng. Ví dụ điển hình thƣờng đƣợc sử dụng nhƣ là Rolls Royce, Bugatti. Trong giáo dục đại học, với nhận thức của hầu hết mọi ngƣời có thể đánh đồng chất lƣợng là Harvard, Oxford, hay Lomonosov…., cả về mặt kinh nghiệm đặc biệt và riêng biệt của sinh viên mà họ đã cung cấp, lẫn mặt đầu ra của sinh viên tốt nghiệp và các nghiên cứu.
Tuy nhiên, khái niệm có chất lƣợng này không có nhiều giá trị khi nói đến việc đánh giá chất lƣợng trong giáo dục đại học nói chung. Nếu tất cả các tổ chức thuộc giáo dục đại học đƣợc chấm điểm dựa trên cùng một tiêu chuẩn nhƣ sử dụng để đánh giá Harvard, Oxford, hay Lomonosov, hầu hết sẽ là liên tục bị lên án là kém chất lƣợng. Thậm chí nếu có thể để làm cho mọi tổ chức giống nhƣ Harvard, Oxford và Cambridge, nó có đƣợc chào đón trong xã hội hiện đại? Đầu tiên, chất lượng phải phù hợp với đặc điểm kỹ thuật và tiêu chuẩn. Cách tiếp cận này có nguồn gốc từ những khái niệm về quản lý chất lƣợng trong ngành công nghiệp sản xuất.
Nó nhƣ là cơ sở để đo lƣờng, hoặc là “thƣớc đo”. Chất lƣợng là một thuật ngữ trung tính để mô tả một đặc tính cần thiết của một sản phẩm hoặc dịch vụ. Nó ngụ ý rằng chất lƣợng của một dịch vụ có thể đƣợc 7 định nghĩa theo tiêu chuẩn mà các tiêu chuẩn đó đƣợc dễ dàng đo lƣờng và định lƣợng, và điều này có thể không đúng trong trƣờng hợp giáo dục đại học. Việc sử dụng thuật ngữ “tiêu chuẩn” gây ra một sự khó khăn khác trong mối liên quan đến giáo dục đại học, vì nó thƣờng đƣợc sử dụng với một ý khác với định nghĩa ở trên: sự vượt trội hay tiêu chuẩn cao.
Đôi khi thuật ngữ tiêu chuẩn chỉ đƣợc sử dụng trong sự liên quan với các đầu ra của giáo dục đại học về thành tích của ngƣời học. Tuy nhiên, nó cũng có thể đƣợc sử dụng với ý nghĩa rộng trong mối quan hệ đến toàn bộ các hoạt động có liên quan đến dạy và học, nghiên cứu trong giáo dục đại học.