phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục; phần nội dung của luận văn đƣợc chia thành 04 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận. - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. - Chƣơng 3: Thực trạng áp dụng quản trị tinh gọn vàohệ thống phân phối sản phẩmCông ty cổ phần Nhựa Thiến niên Tiền Phong. - Chƣơng 4: Giải pháp áp dụng quản trị tinh gọn trong hệ thống phân phối sản phẩm Công ty cổ phần Nhựa Thiến niên Tiền Phong.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TINH GỌN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản trị tinh gọn 1.1 Một số nghiên cứu ngoài nước Hiroshi Katayama, David Bennett (1996) trong “Lean production in a changing competitive world: a Japanese perspective_Sản xuất tinh gọn trong thế giới cạnh tranh thay đổi: viễn cảnh Nhật Bản” đã phân tích các khái niệm cơ bản của sản xuất tinh gọn và xu hƣớng của Nhật Bản, giải thích đƣợc tại sao trong giai đoạn khủng hoảng, các yếu tố môi trƣờng bên trong và bên ngoài lại ảnh hƣởng đến khả năng tồn tại của sản xuất tinh gọn ở Nhật Bản. Nhóm tác giả cũng đi khảo sát 4 trƣờng hợp cụ thể để tìm ra các vấn đề trong việc áp dụng sản xuất tinh gọn ở Nhật và đƣa ra một số khái niệm mới phù hợp với điều kiện môi trƣờng. Lewis (2000) với “Lean production and sustainable competitive advantage_Sản xuất tin gọn và lợi thế cạnh tranh bền vững” đã phân tích chi tiết sản xuất tinh gọn, 6 sigma, TQM. Đồng thời tác giả đi sâu nghiên cứu ba trƣờng hợp cụ thể để kết luận rằng sản xuất tinh gọn góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh bền vững của DN.
Dahlgaard, Su Mi Dahlgaard-Park (2006) trong cuốn“Lean production, six sigma quality, TQM and company culture_Sản xuất tinh gọn, chất lượng theo 6 sigma, quản lý chất lượng toàn diện và văn hóa DN”đã cho thấy triết lý sản xuất tinh gọn và 6 sigma cơ bản giống nhau, có chung nguồn gốc từTQM. Bên cạnh đó, tác giả còn khẳng định sản xuất tinh gọn và 6 sigma là các công cụ mới thay thế cho TQM. Yang Pingyu, Yuyu (2010) qua khảo sát“The barriers to SMEs’ implementation of lean production and countermeasures – Based on SME 5 z in Wenzhou_Những rào cản trong việc áp dụng sản xuất tinh gọn tại các DNNVV và một số giải pháp: trường hợp các DNNVV ở Ôn Châu” đã phân tích những khó khăn mà DN gặp phải khi áp dụng sản xuất tinh gọn, từ đó đƣa ra một số giải pháp tập trung vào 4 điểm: sự quan tâm của ban lãnh đạo, kỹ năng giao tiếp, tổ chức đào tạo và xây dựng hệ thống đánh giá năng suất. Tác giả Phan Chí Anh và Yoshiki Matsui (2010) trong bài viết “Contribution of quality management and just-in-time production practices to manufacturing performance_Đóng góp của quản lý chất lượng và sản xuất đúng lúc vào hiệu quả sản xuất” đã phân tích những đóng góp của quản lý chất lƣợng và sản xuất đúng lúc tới hiệu suất và tính linh hoạt của các xƣởng sản xuất thông qua khảo sát 163 xƣởng sản xuất tại 5 quốc gia.
Dựa vào phân tích số liệu, tác giả đã thấy rằng các xƣởng có kết quả sản xuất cao đều là các xƣởng tập trung sử dụng hai công cụ quản lí chất lƣợng (QM) và Just In Time (JIT) và nêu bật đƣợc lợi ích khi vận dụng cả hai công cụ hơn là áp dụng một công cụ riêng lẻ. Từ đó, các tác giả cũng đƣa ra đề xuất với các DN nên tìm ra mối liên kết và sức mạnh tổng hợp của việc áp dụng các công cụ trên nhằm đạt đƣợc vị thế cạnh tranh cao trong thị trƣờng. Nguyễn Đăng Minh (2012), trong nghiên cứu “Contribution of Total Productive Management to Environment Conservation”đã chỉ ra rằngTPM (Total Productive Management _ Duy trì năng suất tổng thể) đã đƣợc áp dụng rộng rãi tại các DN Nhật Bản nhằm nâng cao hiệu suất, khả năng sử dụng thiết bị, dụng cụ, từ đó giảm thiểu chi phí sản xuất và chi phí đầu tƣ thiết bị. Bên cạnh đó, TPM cũng góp phần bảo vệ môi trƣờng thông qua việc giảm tiêu thụ năng lƣợng, nƣớc và hạn chế khí thải.
Và cuối cùng, tác giả khẳng định khi áp dụng TPM, JIT, TQM thì không chỉ DN sản xuất mà ngay cả các DN dịch vụ, bảo dƣỡng, xây dựng… cũng sẽ hoạt động hiệu quả hơn.2 Một số nghiên cứu trong nước Nghiên cứu “Áp dụng lean manufacturing tại Việt Nam thông qua một số tình huống” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Đức Nguyên và Bùi Nguyên Hùng (2011), nhóm tác giả đã sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính mutiliple cases để nghiên cứu 3 DN ở Việt Nam để tìm ra sự khác biệt của cơ sở lý thuyết với thực tiễn Việt Nam. Từ đó, nhóm tác giả cũng đƣa ra mô hình áp dụng sản xuất tinh gọn cho các DN Việt Nam nói chung áp dụng vào sản xuất và xây dựng chuỗi giá trị hiện tại và tƣơng lai cho bản thân DN. Đậu Quang Diễn (2015) trong luận văn thạc sĩ kinh tế về đề tài “Quản trị tinh gọn trong chuỗi cung ứng tại Công ty thực phẩm Kinh Đô miền Bắc” đã có những nghiến về quản trị tinh gọn nhƣ khái niệm, mục tiêu, công cụ, phƣơng pháp, đặc điểm và lợi ích. Tác giả cũng đã khảo sát để đánh giá thực trạng của công tác quản trị tinh gọn tại đơn vị nghiên cứu là chuỗi cung ứng tại Công ty thực phẩm Kinh Đô miền Bắc, mà cụ thể hóa tại phòng Logistic công ty.
Cuối cùng, tác giả đã đề xuất những định hƣớng áp dụng quản trị tinh gọn trong thời gian 03 năm tiếp sau. Luận văn thạc sĩ kinh tế Trần Thị Luyến (2014) về“Xây dựng mô hình quản trị tinh gọn áp dụng tại một số DN sản xuất nhỏ và vừa ở Việt Nam”đã tổng quan đƣợc các lý thuyết liên quan đến quản trị tinh gọn và có minh chứng các trƣờng hợp ứng dụng lý thuyết này thành công trong nƣớc và trên thế giới. Tiếp theo đó, tác giả đã nghiên cứu thực trạng áp dụng quản trị tinh gọn tại một số DN sản xuất nhỏ và vừa ở Việt Nam, tìm các nguyên nhân của việc các DN áp dụng chƣa thành công quản trị tinh gọn trong sản xuất và đề xuất đƣợc các giải pháp nhằm giúp các DN có thể áp dụng quản trị tinh gọn hiệu quả hơn, cuối cùng luận văn đã xây dựng đƣợc mô hình quản trị tinh gọn nhằm áp dụng cho một số DN sản xuất nhỏ và 7 z vừa ở Việt Nam. Còn với tác giả Nguyễn Hồng Hải (2014), luận văn thạc sĩ kinh tế về“Áp dụng tư duy quản trị tinh gọn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Đại lý Honda Ôtô Mỹ Đình”cũng đã hệ thống hóa, cập nhật đƣợc các kiến thức lý luận về quản trị tinh gọn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN.
Luận văn đã vận dụng lý luận vào phân tích, đánh giá hiệu quả thực hiện các phƣơng pháp, hoạt động quản trị tinh gọn mà Honda Ô tô Mỹ Đình đang áp dụng. Từ lý luận và kết quả phân tích thực tiễn, luận văn hƣớng tới hoàn thiện việc áp dụng tƣ duy quản trị tinh gọn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Honda Ô tô Mỹ Đình trong những năm tới. Tác giả Bùi Hải Long (2015) trong luận văn thạc sĩ kinh tế về đề tài “Quản trị tinh gọn của Công ty cổ phần vật tư và thiết bị Toàn bộ”thì nghiên cứu đã giới thiệu đƣợc về lịch sử hình thành, mục tiêu và nguyên lý chính của quản trị tinh gọn, đề từ đó tìm hiểu về khái niệm, công cụ, vai trò, ƣu nhƣợc điểm các nhân tố ảnh hƣởng tới việc áp dụng quản trị tinh gọn trong DN. Bên cạnh những phƣơng pháp nghiên cứu truyền thông nhƣ desk study, báo cáo DN, tác giả đã sử dụng kết hợp với những phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ quan sát khoa học, điều tra khảo sát, nghiên cứu thực chứng để phân tích về thực trạng áp dụng quản trị tinh gọn tại đơn vị nghiên cứu là Công ty cổ phần vật tƣ và thiết bị Toàn bộ, tìm hiểu đƣợc những nguyên nhân của những tồn tại trong việc áp dụng của công ty này.
Phần giải pháp, tác giả cũng đã đề ra mục tiêu áp dụng quản trị tinh gọn và đề xuất 07 giải pháp và 01 mô hình áp dụng cho cho quản trị tinh gọn tại công ty. Những nghiên cứu trên đa phần là với một đối tƣợng là một công ty cụ thể, chứ chƣa có nghiên cứu nào về một hệ thống các cửa hàng phân phối. Bởi vậy, luận văn của tác giả có thể kế thừa những kiến thức nền tảng 8 z về quản trị tinh gọn nhƣng vẫn là một hƣớng nghiên cứu hoàn toàn mới và không trùng lặp với các tác giả kể trên. Cơ sở lý luận về quản trị tinh gọn trong hệ thống phân phối sản phẩm 1.1 Một số khái niệm cơ bản Quản trị tinh gọn Thuật ngữ “Lean manufacturing” lần đầu xuất hiện năm 1990, trong cuốn “The Machine that Changed the World_Cỗ máy làm thay đổi thế giới” của các tác giả Daniel Jones, James Womack và Danile Roos.
Lần đầu tiên Lean đƣợc sử dụng làm tên gọi cho hệ phƣơng pháp sản xuất tinh gọn, liên tục cải tiến các quy trình kinh doanh.Lean trong tiếng Anh có nghĩa là sự tinh gọn, mạch lạc hay liền mạch. Các cấp độ khác nhau bao gồm: lean manufacturing (sản xuất tinh giản), lean enterprise (DN tinh gọn) và lean thinking (tƣ duy tinh gọn). Để thực hiện phƣơng pháp sản xuất tinh gọn thành công, triết lý và tƣ duy quản trị tinh gọn ra đời, Thomas L.Jackson (1996) đã chỉ ra một DN muốn xây dựng đƣợc hệ thống sản xuất tinh gọn cần phải có hệ thống quản trị tinh gọn trƣớc, vì ba lý do sau: - Lý do 1: DN cần chiến lƣợc phát triển dài hạn và cam kết để chuyển sang phƣơng pháp sản xuất mới_sản xuất tinh gọn, - Lý do 2: DN cần những thay đổi về quy chế, quy trình vận hành, cơ cấu tổ chức cũng nhƣ con ngƣời, máy móc, thiết bị khi chuyển đổi từ mô hình sản xuất cũ sang mô hình mới. - Lý do 3: DN cần tâm huyết thực sự của ngƣời lãnh đạo cao nhất trong tổ chức khi quyết định chuyển đổi từ mô hình sản xuất cũ sang sản xuất tinh gọn.
Do vậy quản trị tinh gọn ra đời là một tất yếu khách quan. Theo 9 z Nguyễn Đăng Minh và cộng sự (2013) thì quản trị tinh gọn (Lean Management) là tƣ duy quản trị tạo ra lợi nhuận/giá trị gia tăng cho DN bằng cách dùng trí tuệ của con ngƣời nhằm cắt giảm tối đa chi phí lãng phí.