CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ THÙ LAO 1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN TRỊ THÙ LAO 1. Các khái niệm và vai trò của thù lao a. Khái niệm thù lao lao động Thù lao là tập hợp tất cả các khoản chi trả dưới các hình thức như tiền, hàng hóa và dịch vụ mà người sử dụng lao động trả trả cho nhân viên tạo thành một hệ thống thù lao [16, tr.
Thù lao lao động bao gồm hai phần: Thù lao vật chất và phi vật chất. - Thù lao vật chất bao gồm thù lao gián tiếp và trực tiếp, thù lao vật chất trực tiếp bao gồm lương công nhật, lương tháng, tiền hoa hồng và tiền thưởng. thù lao vật chất gián tiếp bao gồm các chính sách mà công ty áp dụng như: các loại bảo hiểm, các loại phúc lợi bao gồm các kế hoạch về hưu, an sinh xã hội, đền bù cho công nhân làm việc trong môi trường độc hại, làm việc thay ca, làm việc ngoài giờ, làm việc vào ngày lễ…. các trợ cấp về giáo dục, trả lương trong các trường hợp vắng mặt vì nghỉ hè, nghỉ lễ, ốm đau, thai sản … [16, tr.
- Thù lao phi vật chất: các doanh nghiệp không chỉ quan tấm đến thù lao vật chất, mà còn phải quan tâm đến những đãi ngộ phi vật chất hay còn gọi là tinh thần cho người lao động. Các chính sách đãi ngộ phi vật chất ngày càng được quan tâm hơn. Đó chính là bản thân công việc, và môi trường làm việc…. bản thân công việc có hấp dẫn không, có thách đố đòi hỏi sức phấn đấu không, nhân viên có được giao trách nhiệm không, công nhân có cơ hội được cấp trên biết đến thành tích của mình hay không, họ có cảm giác vui khi hoàn thành công việc hay không và có cơ hội thăng tiến hay không.
Quản trị thù lao Quản trị thù lao không chỉ đơn thuần là các công việc liên quan đến Luan van 9 tính lương, quyết toán thuế, trích nộp BHXH và BHYT, mà còn quản lý thông tin của người lao động cũng như gián tiếp duy trì quan hệ với người lao động và thể hiện tầm nhìn nhân sự của doanh nghiệp [17, tr. Quản trị thù lao là một phần thiết yếu và cơ bản trong hoạt động của DN nhưng trong một số trường hợp, quản trị tiền lương là “gánh nặng” cho DN vì công việc có tính chất lặp đi lặp lại và chiếm khá nhiều thời gian của các chuyên viên nhân sự. Nói cách khác, công việc này có thể làm bộ máy nhân sự tăng thêm trong khi không trực tiếp đóng góp vào việc duy trì và phát triển của doanh nghiệp. Mục tiêu của quản trị thù lao Mục tiêu của quản trị tiền lương là tạo ra hệ thống trả công mang tính thỏa đáng cho người chủ lao động cũng như người lao động.
Mục tiêu hướng đến của việc trả lương là làm sao cho người lao động mong muốn làm việc hết sức cho người chủ lao động. Patton có đưa ra một chính sách tiền lương hiệu quả bao gồm bảy tiêu chí [16, tr. Phù hợp: Mức lương phải phù hợp, đáp ứng được mức qui định tối thiểu của chính phủ, công đoàn và ban quản trị. Thỏa đáng: Mỗi người lao động nên được trả lương công bằng, xứng đáng với nổ lực, khả năng và trình độ học vấn của họ.
Cân đối: Lương, phụ cấp và những khoản thưởng khác tổng lại thành một gói tiền công hợp lý. Chi phí hiệu quả: Mức lương không nên cao quá mức, xem xét mức lương mà Công ty có khả năng chi trả. An toàn: Mức lương nên đủ để giúp người lao động cảm thấy an toàn và giúp giúp anh ta thỏa mãn được nhu cầu cơ bản. Khích lệ được người lao động: Mức lương nên tạo động lực làm Luan van 10 việc hiệu quả và có năng suất.
Người lao động có thể chấp nhận được: Người lao động nên hiểu và năm rõ về hệ thống trả lương và cảm thấy hệ thống trả lương hợp lý với doanh nghiệp và đối với mình. Vai trò của quản trị thù lao - Thù lao lao động phải đảm bảo vai trò khuyến khích vật chất đối với người lao động. - Thù lao lao động có vai trò quan trọng trong quản lý lao động, doanh nghiệp trả thù lao cho người lao động không chỉ bù đắp sức lao động đã hao phí mà thông qua đó để kiểm tra giam sát người lao động làm việc theo ý đồ của mình đảm bảo hiệu quả công việc. Mục đích của DN là lợi nhuận ngày càng lớn để đạt được mục tiêu này DN phải quản lý lao động tốt để tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí nhân công.
- Nhằm đáp ứng yêu cầu công việc của doanh nghiệp hay nói cách khác để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. - Công tác thù lao tốt làm cho người lao động an tâm làm việc, doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển, nâng cao tính ổn định và năng động của doanh nghiệp. - Thực tế cho thấy, thực hiện tốt công tác quản trị thù lao chính là điều kiện quyết định để một tổ chức có thể đi lên trong cạnh tranh. Nếu làm tốt công tác này sẽ đem lại nhiều tác dụng cho các tổ chức: + Tạo điều kiện cho người lao động có tính sáng tạo trong công việc, tiết kiệm được chi phí.
+ Nâng cao chất lượng thực hiện công việc. + Giảm bớt lao động có thái độ làm việc không chuyên cần. + Nâng cao tính ổn định của lực lượng lao động cho doanh nghiệp. - Về phía người lao động, công tác thù lao tốt sẽ đáp ứng nhu cầu thu Luan van 11 nhập của người lao động, là một trong những yếu tố tạo nên động cơ lao động tốt, là con đường để người lao động có thể gắn kết lâu dài với doanh nghiệp, luôn đáp ứng được yêu cầu công việc.
- Tạo cho người lao động có cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ, là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao động trong công việc. Cấu trúc của quản trị thù lao và sự cần thiết phải quản trị thù lao a. Thù lao cơ bản (Tiền lương, tiền công) Trả công là một hoạt động quản trị nhân sự có ý nghĩa rất đối với mỗi tổ chức trong việc giúp cho tổ chức đó đạt được hiệu suất hoạt động cao. Đây là một phần quan trọng của chi phí sản xuất.
Bên cạnh đó nó còn là phần cơ bản nhất trong thu nhập của người lao động. Vì vậy, tổ chức cần nắm rõ khái niệm về tiền công, tiền lương; cũng như làm cách nào quản trị nó để đạt được hiệu quả cao nhất [14, tr. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì tiền lương là: Tiền lương là sự trả công, thu nhập bất luận tên gọi cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lạo động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, do người sử dụng lao động trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động viết hay bằng miệng cho một công việc đã hực hiện hay sẽ phải làm. Theo quy định trong pháp luật Việt Nam thì : Tiền lương là giá cả của sức lao động được hình thành thông qua sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động do quan hệ cung cầu sức lao động trên thị trường quyết định phù hợp với những quy định của luật lao động.
Hai thuật ngữ tiền công, tiền lương trên thực tế hay bị dùng lẫn lộn và tiền lương được sử dụng nhiều hơn. Về bản chất thì tiền công và tiền Luan van 12 lương cũng không khác nhau, nó đều để chỉ phần thù lao cơ bản mà người lao động nhận được từ tổ chức. Song cũng nên có sự phân biệt rõ ràng giữa chúng. Cụ thể: Tiền công thường được trả cho công nhân sản xuất, nhân viên văn phòng, nhân công kỹ thuật.
Nó là số tiền trả cho người lao động tuỳ thuộc vào thời gian làm việc thực tế (Giờ, ngày), hay số lượng sản phẩm sản xuất ra hay tuỳ thuộc vào khối lượng công việc đã hoàn thành. Còn tiền lương là số tiền trả cho người lao động một cách cố định và thường xuyên theo một đơn vị thời gian (tuần, tháng, năm). Và nó thường được trả cho các cán bộ quản lý, các nhân viên chuyên môn, kỹ thuật. Những người mà khó định lượng được kết quả thực hiện công việc.
Phụ cấp và khuyến khích tài chính. * Phụ cấp Phụ cấp là khoản mà người lao động nhân được ngoài tiền lương cơ bản. Nó bổ sung cho lương cơ bản, hay là khoản bù đắp thêm cho người lao động khi mà họ phải làm việc trong những điều kiện không ổn định và không thuận lợi mà chưa được tính đến trong lương cơ bản [12, tr. Ở nước ta, trong khu vực kinh tế Nhà nước có rất nhiều loại phụ cấp: Phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp độc hại, nguy hiểm; đắt đỏ; hay phụ cấp khu vực…Tuy nhiên khu vực ngoài quốc doanh thì rất ít quan tâm đến các loại phụ cấp này.
Ngoài ra thì cũng có những loại phụ cấp không phải phụ cấp lương như: Phụ cấp vận chuyển, phụ cấp đi đường…, nó tính không dựa vào lương. Tiền phụ cấp được trả có tác dụng kích thích người lao động trong những trường hợp làm việc trong điều kiện thiếu thuận lợi hơn bình thường. * Khuyến khích tài chính Các khuyến khích tài chính là khoản thù lao ngoài tiền công hay tiền Luan van 13 lương trả cho những người lao động thực hiện tốt công việc. Ngày nay, khuyến khích tài chính là một loại kích thích có tác dụng tích cực tới người lao động.
Các doanh nghiệp cạnh tranh nhau về nhân lực một cách gay gắt, đặc biệt là nhân lực có chất lượng. Do hiệu suất công việc bị ảnh hưởng và biến động rất lớn dựa vào hiệu suất lao động. Trên tổng thể có rất nhiều loại khuyến khích, mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn cho mình những loại khuyến khích phù hợp nhất với tình hình sản xuất kinh doanh cụ thể như: Để kích cầu, tăng doanh thu thì doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức khuyến khích là thưởng tăng doanh thu, hay hình thức trả hoa hồng cho người bán., hay có thể áp dụng các loại thưởng như: thưởng tăng năng suất chất lượng, thưởng tiết kiệm vật tư, nguyên liệu, phân chia lợi nhuận, thưởng sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; thưởng tìm được nơi cung ứng, tiêu thụ, ký kết được hợp đồng mới, giới thiệu khách hàng…Những hoạt động làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.