CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ THỊ TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm dịch vụ, dịch vụ viễn thông a. Khái niệm dịch vụ Có rất nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau về dịch vụ, tuy nhiên các quan điểm đó đều có sự tương đồng trong nhận thức, cho rằng dịch vụ là một loại hàng hóa rất đặc biệt - hàng hóa vô hình mà người tiêu dùng chỉ có thể cảm nhận được nó sau khi đã tiêu dùng.
Quan niệm chung này bao hàm toàn bộ các đặc tính cơ bản của dịch vụ, biểu hiện cụ thể như sau: + Tính vô hình. Đặc điểm này chính là đặc trưng lớn nhất của dịch vụ. Khách hàng không thể dùng các giác quan cụ thể như cầm nắm, nhìn, ngửi, nếm, nghe trước khi tiêu dùng dịch vụ được. Cũng bởi vì tính chất vô hình, các nhà cung cấp dịch vụ thường cố gắng hữu hình hóa các dịch vụ, cung cấp bằng cách sử dụng các phương tiện và lao động sống nhằm tạo ra sự tin tưởng cho người tiêu dùng.
+ Tính đồng thời và không thể tách rời. Khác với hàng hóa hữu hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ được diễn ra một cách đồng thời. Chính vì vậy, không thể tách rời giữa sản xuất với tiêu dùng dịch vụ. Nếu thiếu mặt này thì cũng không tồn tại mặt kia.
+ Tính chất không đồng nhất. Không giống như hàng hóa hữu hình, quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ không có chất lượng giống nhau ở các lần cung cấp và tiêu dùng. Tính chất này có được là do trong hoạt động cung cấp dịch vụ sử dụng nhiều lao động sống. + Tính không lưu trữ được.
Đối với dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để có thể dự trữ bán dần như đối với hàng hóa thông thường. Tính chất này là hệ quả của tính đồng thời và không thể tách rời, dịch vụ được sản xuất đến đâu thì sẽ được tiêu dùng ngay đến đấy. + Tính cá nhân hóa cao. Trong khi tiêu dùng dịch vụ, khách hàng có thể đưa ra các điều chỉnh, trực tiếp tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ theo mong muốn của mình.
Thực tế cho thấy, hoạt động kinh doanh dịch vụ thường được bắt đầu với số vốn đầu tư ít hơn nhiều so với số vốn cần thiết để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, bán buôn hoặc bán lẻ các hàng hóa khác nhưng lại sử dụng nhiều lao động sống hơn. Theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Irving Burstiner (The small business handbook, 1997) cho rằng kinh doanh dịch vụ được hiểu là tập hợp các hoạt động khác nhau của dịch vụ lao động trong nhiều lĩnh vực nhằm thỏa mãn các nhu cầu cá biệt của khách hàng. Theo đó, nhiều nhà khai thác dịch vụ mới có thể bắt đầu công việc kinh doanh ngay tại nhà và tránh được các chi phí cho thuê, mua, hoặc xây dựng các cơ sở kinh doanh, chi phí đầu tư trong hàng tồn kho, nguyên liệu, thành phẩm. Khái niệm dịch vụ viễn thông Viễn thông được hiểu như là cách thức trao đổi thông tin, dữ liệu thông qua kỹ thuật điện, điện tử và các công nghệ hiện đại khác.
Dịch vụ viễn thông là dịch vụ truyền kí hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ biết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối thông qua mạng viễn thông. Dịch vụ viễn thông là dịch vụ thông tin 2 chiều qua mạng viễn thông cho phép thuê bao đăng ký sử dụng dịch vụ có thể sử dụng nhiều loại hình dịch vụ (thoại và phi thoại) trong phạm vi vùng phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ. Như vậy, dịch vụ viễn thông là một loại hình dịch vụ có tính ưu việt là có khả năng sử dụng ở mọi lúc mọi nơi, hội tụ đuợc cả chức năng cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản là truyền tin và các dịch vụ giải trí gia tăng khác và truy cập Internet. Việc sử dụng dịch vụ này đòi hỏi cần có thiết bị đi kèm là điện thoại di động và được hoà vào mạng cung cấp của các nhà cung cấp dịch vụ này.
Đặc trưng của dịch vụ viễn thông là dịch vụ có tính rộng khắp, khả năng phủ sóng trên diện rộng để đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc ngày càng cao với lượng thông tin ngày càng lớn và cập nhật. Đây là lĩnh vực kinh doanh dịch vụ đặc biệt không chỉ cung cấp cho khách hàng sử dụng một cách trực tiếp mà cũng là cơ sở hạ tầng cho sự phát triển các hoạt động dịch vụ khác và cả hoạt động sản xuất hàng hoá. Là cơ sở hạ tầng cho các ngành kinh tế khác phát triển. Dịch vụ viễn thông mang lại hiệu quả thông tin liên lạc mọi lúc, mọi nơi, có tính bảo mật cao, giá cả dịch vụ điện thoại di động cao hơn giá dịch vụ điện thoại cố định.
Như vậy, dịch vụ viễn thông là một tập hợp các hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, tạo ra chuỗi giá trị mang lại lợi ích tổng hợp, được phân làm hai loại: dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng. - Dịch vụ cơ bản (dịch vụ cốt lõi) là dịch vụ chủ yếu cung cấp cho thị trường, mang lại một loại giá trị sử dụng cụ thể, gắn liền với công nghệ, hệ thống sản xuất và cung ứng dịch vụ. Cụ thể hơn dịch vụ cơ bản là dịch vụ để kết nối và truyền tín hiệu số giữa các thiết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 bị đầu cuối. Các dịch vụ cơ bản của viễn thông bao gồm dịch vụ thoại và dịch vụ truyền số liệu.
- Dịch vụ giá trị gia tăng là những dịch vụ bổ sung tạo ra những giá trị phụ trội thêm cho khách hàng, làm khách hàng cảm nhận tốt hơn về dịch vụ cơ bản. dịch vụ gia tăng của dịch vụ viễn thông là khai thác thêm các loại hình dịch vụ mới nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các dịch vụ gia tăng của dịch vụ viễn thông là: dịch vụ hiển thị số gọi đến, dịch vụ chuyển cuộc gọi tạm thời, dịch vụ truyền âm thanh, hình ảnh, tin nhắn đa phương tiện, dịch vụ dữ liệu … 1. Khái niệm thị trường Theo góc độ tiếp cận kinh tế học cổ điển, thị trường là nơi diễn ra các quá trình trao đổi mua bán, là tổng số và cơ cấu cung - cầu, điều kiện diễn ra tương tác cung - cầu thông qua mua bán hàng hóa bằng tiền tệ.Rendos khái niệm thị trường là tổng hợp các quan hệ trao đổi giữa những người bán và người mua được thực hiện trong những điều kiện của sản xuất hàng hóa T.Cannon khái niệm thị trường là một tập người bán và người mua thỏa thuận các điều kiện trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ được tiến hành một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, thông qua một mạng lưới trung gian phức hợp để kết nối người mua và người bán ở những vị trí không gian khác nhau.Audigier có khái niệm tổng quát thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu các sản phẩm nhằm làm thỏa mãn một nhu cầu nhất định.
Chuyên gia tư vấn quản trị doanh nghiệp J.Lorenz đưa ra khái niệm thị trường là toàn bộ môi trường hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các nhân tố tác động và các thị trường của nó. Ngoài ra có thể còn có hàng loạt khái niệm về thị trường theo góc độ tiếp cận về thời gian và không gian, địa lý, thông tin… khác nhau và các khái niệm trên đây đều phản ánh được mặt bản chất kinh tế dưới những góc độ tiếp cận khác nhau. Với những nhận định như trên về thị trường và dưới góc độ kinh doanh của công ty thương mại, trong phạm vi của luận văn này thị trường được hiểu là tập các khách hàng và người cung ứng hiện thực và tiềm năng, có nhu cầu thị trường về những mặt hàng của hàng hóa mà công ty có dự án kinh doanh trong mối quan hệ với các nhân tố môi trường kinh doanh và tập người bán – đối thủ cạnh tranh của nó. Từ các cách tiếp cận khác nhau, có thể hiểu thị trường là “tập hợp những khách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 hàng có chung nhu cầu, mong muốn về một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định, có khả năng thanh toán và sẵn sàng tham gia trao đổi”.
Theo đó, có thể khái quát mô hình thị trường của một công ty thương mại như sau: Môi trường kinh doanh Người sản xuất Người môi giới Thị trường ở một mức giá mua xác Công ty TM định Người phân phối Người tiêu dùng cuối bán buôn cùng Lĩnh vực cung X Thị trường ở một mức giá bán xác định Hình 1. Mô hình thị trường của công ty kinh doanh (Nguồn: Nguyễn Bách Khoa, 2013) 1. Khái niệm thị trường chiến lược Phương châm hàng đầu của chiến lược kinh doanh mang tầm quốc tế là sử dụng tốt nhất những sản phẩm, kĩ năng và các nguồn lực của công ty dựa trên nền tảng toàn cầu. Do đó, việc lựa chọn các thị trường mục tiêu hoặc thậm chí tốt hơn là thị trường chiến lược được xem là cơ hội kinh doanh nhưng cũng là thách thức không nhỏ với doanh nghiệp.
Một cách đơn giản, có thể hiểu thị trường chiến lược là những thị trường mà các doanh nghiệp hay quan tâm, hướng tới nhằm chiếm lĩnh trong chiến lược marketing của mình. Tuy nhiên, cách hiểu này thường gây nhầm lẫn với các thị trường mục tiêu của doanh nghiệp. Trong quản trị kinh doanh, thị trường mục tiêu cũng là một khái niệm rất được các doanh nghiệp quan tâm. Theo Kotler, thị trường mục tiêu là một hoặc một vài đoạn thị trường được doanh nghiệp lựa chọn để tập trung nỗ lực marketing.
Trên tất cả các đoạn thị trường mà doanh nghiệp hoạt động, doanh nghiệp luôn phải có các tác động kinh doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 cần thiết, tuy nhiên do ngân sách và nhân lực kinh doanh của mỗi doanh nghiệp có hạn nên cần có sự lựa chọn một số đoạn thị trường trọng yếu mà doanh nghiệp cần tập trung các hoạt động Marketing nhiều hơn để đạt kết quả sản xuất kinh doanh cao hơn ở các đoạn thị trường này. Một vấn đề đặt ra ở đây là các thị trường mục tiêu là những đoạn thị trường mà doanh nghiệp lựa chọn để tập trung các nỗ lực nhằm đạt kết quả kinh doanh cao hơn nhưng giá trị tương lai của các đoạn thị trường mục tiêu như thế nào.