Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận của quản trị rủi ro trong hoạt động giao hàng xuất khẩu bằng đường hàng không. Chương 3: Thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động giao hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ của công ty cổ phần UPS Việt Nam. Chương 4: Đề xuất giải pháp cho hoạt động quản trị rủi ro trong quy trình giao hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ bằng đường hàng không của công ty cổ phần UPS Việt Nam. 6 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO HÀNG XUẤT KHẨU BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm về nguy cơ, rủi ro và tổn thất.
Khái niệm về nguy cơ Theo Đại từ điển tiếng Việt, “nguy cơ” là, cái có thể phát sinh tai hoạ trong thời gian gần nhất; còn “rủi” (danh từ) là, điều không tốt lành, tai hoạ bất ngờ xảy đến (gặp rủi). Theo từ điển Oxford, “risk” là, khả năng của một tình huống hoặc một điều gì đó, có thể trở thành nguy hiểm hay có hậu quả tồi tệ ở một lúc nào đó trong tương lai. Theo các tài liệu tiêu chuẩn quốc tế “nguy cơ” (risk), là sự kết hợp của xác suất xảy ra tổn hại với tính nghiêm trọng của tổn hại này (ISO 14121-1: 2007). Như vậy có thể hiểu nguy cơ rủi ro là những đe dọa nguy hiểm có thể xảy ra, có thể được đo lường bằng xác suất thống kê.
Khái niệm rủi ro Theo Từ điển Tiếng Việt do trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản năm 1995: “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”. Theo cố GS. Nguyễn Lân: “Rủi ro (đồng nghĩa với rủi) là sự không may”. (Từ điển và ngữ Việt Nam, năm 1998, tr.
Theo từ điển Oxford: “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm, hoặc bị đau đớn, thiệt hại…” Khác số từ điển khác lại đề cập tương tự: “Rủi ro là sự bất trắc, gây ra mất mát, hư hại”, “Rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắc chắn”. Trong lĩnh vực kinh doanh: “Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”. “Rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp”. Diễn giả một cách đầy đủ hơn về rủi ro và nguy cơ rủi ro, trong cuốn “Risk management and insurance”, các tác giả C.
Arthur William, Jr. Smith đã viết: “Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả. Rủi ro có thể xuất hiện trong 7 hầu hết mọi hoạt động của con người. Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả.
Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định. Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước”. Theo David Apgar: “Rủi ro là bất cứ điều gì không chắc chắn có thể ảnh hưởng tới các kết quả của chúng ta so với những gì chúng ta mong đợi” (Risk Intelligence: Learning to Manage What We Don’t Know, 2006). Tóm lại, ta có thể hiểu: “Rủi ro là là những sự kiện bất ngờ ngoài mong đợi của con người và gây những thiệt hại cho con người trong các hoạt động của mình”.
Khái niệm về tổn thất Tổn thất là sự thiệt hại của một đối tượng nào đó phát sinh từ một biển cổ bất ngờ ngoài ý muốn của chủ sở hữu (hoặc người chiếm hữu sử dụng). Khả năng tổn thất là chỉ số biểu hiện tổn thất trong một số trường hợp nhất định. Thuật ngữ khả năng tổn thất được dùng khi người ta muốn đánh giá về một tình trạng xấu đã xảy ra trong quá khứ của một nhóm đối tượng đồng loại nhất định. Để xác định khả năng tổn thất, người ta phải dựa vào thống kê kinh nghiệm trong quá khứ.
Thống kê phải được tập hợp trên một tổng thể đủ lớn về số lượng trường hợp và thời gian quan sát. Có thể đánh giá khả năng tổn thất qua hai cách biểu hiện: Tính theo giá trị: gọi là Mức độ tổn thất Tính theo số lượng: gọi là Tần số tổn thất Khả năng tổn thất là một chỉ số quan trọng giúp doanh nghiệp xác định được khả năng tổn thất sẽ giúp họ đánh giá một cách đầy đủ và chính xác về những rủi ro liên quan đến hoạt động tại đơn vị mình. Từ đó, họ có thái độ xử sự đúng đắn và có biện pháp cụ thể đới với các rủi ro, tổn thất. Như vậy, tổn thất là những thiệt hại, mất mát về tài sản, cơ hội mất hưởng về con người, tinh thần, sức khỏe và sự nghiệp của họ do những nguyên nhân từ các rủi ro gây ra.2 Khái niệm về quản trị rủi ro Khái niệm cơ bản: “Quản trị rủi ro là quá trình nhận dạng, phân tích, đo lường, đánh giá rủi ro, để từ đó tìm các biện pháp kiểm soát, khắc phục các hậu quả của rủi ro đối với hoạt động kinh doanh nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực”.
8 Theo Linda Tucci “Quản trị rủi ro là quá trình xác định, đánh giá và kiểm soát các mối đe dọa đối với vốn và thu nhập của tổ chức. Những rủi ro này xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm sự không chắc chắn về tài chính, trách nhiệm pháp lý, vấn đề công nghệ, lỗi quản lý chiến lược, tai nạn và thiên tai”. Một chương trình quản trị rủi ro thành công giúp tổ chức xem xét toàn bộ các rủi ro mà tổ chức phải đối mặt. Quản lý rủi ro cũng xem xét mối quan hệ giữa rủi ro và tác động theo tầng mà chúng có thể có đối với các mục tiêu chiến lược của tổ chức.
Khái niệm giao hàng xuất khẩu bằng đường hàng không Vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không hay còn được hiểu đơn giản là sử dụng các phương tiện máy bay để vận chuyển hàng hóa. Hàng hóa được đóng gói kĩ càng và cho lên các máy bay chở hàng chuyên dụng hoặc buồng chở hàng của máy bay vận chuyển hành khách. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự giao thương mở cửa giữa khu vực các nước, hình thức vận chuyển này ngày càng trở nên phổ biến và chiếm ưu thế.2 Một số lý thuyết liên quan đến hoạt động Quản trị rủi ro trong hoạt động giao hàng xuất khẩu bằng đường hàng không 2.1 Quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường hàng không Trong một quy trình hoạt động thương mại quốc tế, mỗi bên tham gia sẽ có những trách nhiệm và công việc khác nhau. Hoạt động giao hàng xuất khẩu được thực hiện chủ yếu do bên giao nhận vận chuyển sau khi đã ký hợp đồng vận tải với bên nhà xuất khẩu.
Shipper Carrier Carrier FWD1 FWD2 Consignee (Airline) (Airline) FWD3 Sơ đồ 2.1: Quy trình giao hàng xuất khẩu bằng đường hàng không Nguồn: Quản trị giao nhận vận tải quốc tế 9 B1: Nắm bắt tình hình chuẩn bị hàng hóa và phương tiện vận tải. Ở bước này, sau khi xác nhận booking với shipper thì bên phía giao nhận sẽ cần xin thông tin hàng hóa, chứng từ của chủ hàng để sắp xếp, tìm kiếm và đăng ký hãng hàng không để vận chuyển. B2: Giao hàng hóa tại địa điểm quy định Sau khi xác nhận được chuyến bay, giờ bay thì bên giao nhận sẽ có trách nhiệm theo dõi và vận chuyển hàng hóa đến địa điểm được chỉ định. Cần tiến hành kiểm nghiệm, kiểm dịch nếu cần đối với từng loại hàng hóa và giao hàng cho người vận chuyển thực tế.
Ở bước này bên forwarder sẽ cần phải làm thủ tục thông quan xuất khẩu và đăng ký với kho hàng để được cân, đo và xử lý hàng hóa cho kho hàng tại sân bay. B3: Lập và bàn giao các chứng từ liên quan Người giao nhận ở bước này sẽ yêu cầu khách hàng cung cấp chi tiết thông tin làm vận đơn. Trước khi phương tiện khởi hành thì sẽ gửi bản nháp HAWB cho khách hàng kiểm tra và gửi Carrier để làm MAWB. Sau khi phương tiện khởi hành thì sẽ gửi HAWB bản chính và hóa đơn cho khách hàng.
B4: Giao hàng và quyết toán chi phí Ở đây sẽ dựa vào phiếu cân và xử lý hàng hóa cũng như chi phí vận tải theo thỏa thuận để tính tổng chi phí với nhà cung cấp và khách hàng. Nếu người giao nhận là FWD1 thì khách hàng là Shipper, nhà cung cấp là Carrier và FWD2, vận tải nội địa xuất. Ở đây nếu bên shipper thuê 1 bên FWD3 thì khách hàng của FWD1 sẽ chỉ là FWD2. Nếu người giao nhận là FWD2 thì khách hàng là Consignee, nhà cung cấp là FWD1.2 Nội dung quản trị rủi ro trong hoạt động giao hàng xuất khẩu bằng đường hàng không Một quy trình quản trị rủi ro cơ bản được diễn ra theo 5 bước: Bước 1: Nhận dạng rủi ro Đây được xem là một trong những bước quan trọng nhất đồng thời cũng khó thực hiện nhất để quyết định hoạt động quản trị rủi ro của doanh nghiệp có hiệu quả hay 10 không.
Xác định danh sách các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động của doanh nghiệp để sắp xếp, phân nhóm rủi ro. Trong hoạt động nhận diện rủi ro sẽ có những phương pháp cụ thể dể nhận dạng ra các loại rủi ro khác nhau. Cụ thể có 7 phương pháp nhận dạng rủi ro phổ biến được sử dụng: Phương pháp 1: Xây dựng bảng liệt kê Là việc đi tìm các câu trả lời cho các câu hỏi đặt ra trong các tình huống nhất định, để từ đó nhà quản trị có những thông tin nhận dạng và xử lý các đối tượng rủi ro. Phương pháp 2: Phân tích báo cáo tài chính Bằng cách phân tích bản báo cáo hoạt động kinh doanh, bản dự báo về tài chính và dự báo ngân sách, kết hợp với các tài liệu bổ trợ khác, nhà quản trị có thể xác định được các nguy cơ rủi ro về tài sản, về trách nhiệm pháp lý, về nguồn nhân lực, … Phương pháp 3: Phương pháp lưu đồ Trên cơ sở xây dựng một hay một dãy các lưu đồ diễn tả các hoạt động diễn ra trong những điều kiện cụ thể và trong những hoàn cảnh cụ thể, nhà quản trị có điều kiện phân tích nhũng nguyên nhân, liệt kê các tổn thất tiềm năng về tài sản, về trách nhiệm pháp lý và về nguồn nhân lực.