Tổng quan nghiên cứu

Hải Phòng là trung tâm kinh tế biển trọng điểm phía Bắc với 47 bến cảng quy mô lớn nhỏ, đạt sản lượng hàng hóa thông qua năm 2018 lên tới 109 triệu tấn tổng khối lượng (tăng 18,44% so với năm 2017). Sự phát triển vượt bậc của cụm cảng biển đã tạo áp lực cực lớn lên hệ thống 100 km đường giao thông nội bộ kết nối cảng và 253 km mạng lưới tỉnh lộ. Tình trạng ùn tắc giao thông kéo dài từ 6 đến 10 tiếng vào giờ cao điểm, cùng với tỷ lệ tai nạn giao thông liên quan đến xe container chiếm từ 70% đến 80% tổng số vụ việc, đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc huy động nguồn vốn cải tạo hạ tầng.

Nhằm giải quyết bài toán thiếu hụt ngân sách duy tu hạ tầng kết nối, ngày 13/12/2016, Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng đã ban hành Nghị quyết số 148/2016/NQ-HĐND quy định thu phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng cảng biển từ ngày 01/01/2017. Nguồn thu này đóng góp từ 1.550 tỷ đồng đến 1.800 tỷ đồng mỗi năm, tương đương khoảng 7% tổng thu ngân sách nhà nước toàn thành phố (bình quân mỗi ngày thu khoảng 5 tỷ đồng).

Tuy nhiên, đây là chính sách mới lần đầu tiên áp dụng trên quy mô lớn tại Việt Nam, đặt công chức Sở Tài chính Hải Phòng trước hàng loạt rủi ro công vụ nghiêm trọng từ khâu tham mưu chính sách, đối soát liên ngành đến nguy cơ khủng hoảng truyền thông với cộng đồng doanh nghiệp. Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện thực trạng quản trị rủi ro công vụ giai đoạn 2014-2018, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao an ninh tài chính công và tối ưu hóa hiệu quả thực thi chính sách cho giai đoạn 2020-2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận đa tầng, kết hợp giữa quản trị rủi ro hành chính công truyền thống và lý thuyết quản trị an ninh phi truyền thống hiện đại:

Thứ nhất, mô hình an ninh tổng quát 3S - 3C do các chuyên gia an ninh phi truyền thống phát triển, xác lập phương trình cơ bản: S'S = (S1 + S2 + S3) - (C1 + C2 + C3). Trong đó, an ninh của một cơ quan công quyền (S'S) được định lượng thông qua hiệu số giữa các giá trị tích cực gồm An toàn (S1), Ổn định (S2), Phát triển bền vững (S3) và tổng các yếu tố tiêu cực gồm Chi phí quản trị rủi ro (C1), Khủng hoảng phát sinh (C2), Chi phí khắc phục hậu quả (C3).

Thứ hai, lý thuyết quản trị rủi ro tổ chức kế thừa từ các công trình kinh điển của Willett Allan (1951), C. Hardy và nghiên cứu tại Việt Nam của Giáo sư Đoàn Thị Hồng Vân (2009).

Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa theo Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 và Thông tư số 250/2016/TT-BTC, bao gồm: rủi ro công vụ trong cơ quan tài chính địa phương, chu trình quản lý thu - nộp - quyết toán phí hạ tầng, và an ninh nguồn thu ngân sách nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu gồm 120 phiếu khảo sát đối với cán bộ, công chức trực tiếp tham mưu và quản trị thu phí tại Sở Tài chính, Chi cục Thuế, Cục Hải quan Hải Phòng, Ủy ban nhân dân quận Hải An; đồng thời khảo sát mở rộng 80 doanh nghiệp logistics, xuất nhập khẩu hoạt động trên địa bàn. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện, khách quan giữa chủ thể quản lý và đối tượng nộp phí.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo quyết toán thu ngân sách thành phố Hải Phòng giai đoạn 2014-2018 (với quy mô tổng thu ngân sách tăng từ 62.640 tỷ đồng năm 2016 lên 71.800 tỷ đồng năm 2018) cùng hệ thống 7 văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ điều chỉnh phí. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích tổng hợp logic và so sánh đối chiếu được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc bóc tách sai lệch dự toán, phát hiện các điểm nghẽn quy trình và định lượng hóa các nguy cơ khủng hoảng tài chính công trong khung thời gian nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, chính sách thu phí tạo ra bước nhảy vọt về quy mô ngân sách nhưng đi kèm biên độ dao động rủi ro lớn. Giai đoạn 2014-2015, khi điều chỉnh mức thu tăng khoảng 60% theo Quyết định số 152/QĐ-UBND, tổng số phí thu được năm 2015 đã tăng gấp 3 lần so với năm 2014. Khi bước sang năm 2017 với việc triển khai Nghị quyết 148/2016/NQ-HĐND mở rộng thu phí hàng xuất nhập khẩu, tổng thu tăng hơn 100% so với năm 2016, chạm mốc dự toán 1.800 tỷ đồng/năm.

Thứ hai, phát sinh rủi ro phản ứng chính sách gay gắt từ cộng đồng doanh nghiệp do chi phí logistics gia tăng đột ngột. Khi áp dụng mức thu mới, nhiều doanh nghiệp dệt may phát sinh chi phí từ 473 triệu đồng đến 5 tỷ đồng mỗi năm (điển hình như Tổng công ty Đức Giang chịu thêm 5 tỷ đồng, May Tinh Lợi trên 2,2 tỷ đồng, May 10 khoảng 2,18 tỷ đồng). Khảo sát từ các hiệp hội ngành hàng ghi nhận trên 65% doanh nghiệp cho rằng thời gian thông quan nộp phí kéo dài thêm hơn 90 phút mỗi lô hàng; khoảng 18,75% doanh nghiệp bị lưu bãi qua đêm, dẫn đến dự báo phát sinh chi phí kho bãi và lãi vay xã hội lên tới 15,2 triệu USD.

Thứ ba, rủi ro vận hành kỹ thuật và kiểm soát dữ liệu liên ngành. Áp lực thu bình quân 5 tỷ đồng mỗi ngày phân bổ tại nhiều điểm thu của Ủy ban nhân dân quận Hải An kết hợp với việc đối soát thủ công tờ khai hải quan trước ngày 10 hàng tháng tạo nguy cơ tồn đọng biên lai, sai lệch dữ liệu điện tử và nguy cơ thất thoát tiền phí khi nộp về Kho bạc Nhà nước.

Thứ tư, hiệu quả từ phản ứng điều chỉnh linh hoạt. Trước các kiến nghị, ngày 08/12/2017, Hội đồng nhân dân thành phố đã ban hành Nghị quyết số 24/2017/NQ-HĐND điều chỉnh giảm mức thu đối với nhiều nhóm hàng rời, hàng lỏng, giúp hạ nhiệt căng thẳng và ổn định dòng thu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân gốc rễ của các rủi ro giai đoạn đầu xuất phát từ việc thiếu hụt cơ sở dữ liệu đồng bộ giữa Hải quan, Tài chính và đơn vị vận hành cảng. Khi biểu diễn dữ liệu bằng biểu đồ so sánh giữa dự toán và thực tế thu giai đoạn 2014-2018, đường thực thu có sự tăng vọt vượt bậc vào năm 2017 nhưng sau đó đi ngang. Bảng cơ cấu nguồn thu phản ánh tỷ trọng hàng hóa xuất nhập khẩu thông thường chiếm đến hơn 85% tổng số thu, trong khi hàng tạm nhập tái xuất giảm dần.

Dưới góc nhìn mô hình 3S - 3C, việc thành phố chậm trễ số hóa quy trình đã làm tăng vọt chi phí xử lý khủng hoảng (C2) và chi phí vận hành (C1), làm suy giảm độ ổn định (S2). Sự can thiệp kịp thời của Nghị quyết 24/2017/NQ-HĐND là minh chứng cho việc tái lập cân bằng an ninh tài chính, giúp duy trì nguồn lực đầu tư 39 bến cảng hiện đại mà không làm triệt tiêu năng lực cạnh tranh của 39 doanh nghiệp khai thác cảng trên địa bàn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa toàn diện quy trình lập, chấp hành dự toán và quyết toán nguồn thu phí: Sở Tài chính chủ trì phối hợp Kho bạc Nhà nước Hải An thiết lập cơ chế kiểm soát số liệu tự động theo ngày đối với hạn mức thu trung bình 5 tỷ đồng/ngày, bảo đảm tỷ lệ đối soát khớp đúng 100% trong khung thời gian 2020-2021.

Thứ hai, hiện đại hóa hệ thống phần mềm và tích hợp nền tảng công nghệ 4.0: Ủy ban nhân dân quận Hải An cùng Cục Hải quan Hải Phòng nâng cấp cổng thanh toán trực tuyến 24/7, liên thông dữ liệu tờ khai điện tử để rút ngắn thời gian xử lý thủ tục nộp phí xuống dưới 15 phút mỗi lô hàng (giảm hơn 75% thời gian so với mức 90 phút trước đây), hoàn thành trước năm 2023.

Thứ ba, hoàn thiện chế tài pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính và kiểm soát nợ đọng: Sở Tài chính tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố ban hành quy chế phối hợp liên ngành kiểm tra sau thông quan, phấn đấu duy trì tỷ lệ nợ đọng phí dưới 1% trên tổng dự toán thu hàng năm trong suốt giai đoạn 2020-2025.

Thứ tư, đào tạo và nâng cao năng lực quản trị an ninh phi truyền thống cho đội ngũ công chức: Sở Tài chính định kỳ tổ chức từ 2 đến 4 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm cho 100% cán bộ phòng Quản lý nguồn thu ngân sách về kỹ năng nhận diện rủi ro công vụ, quản lý khủng hoảng truyền thông và phân tích dữ liệu tài chính công.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, đội ngũ công chức và lãnh đạo tại các cơ quan tài chính, thuế, hải quan địa phương: Cung cấp bài học thực tiễn về mô hình liên kết thu phí và đối soát ngân sách hàng ngày, trực tiếp ứng dụng cho các địa phương có nguồn thu từ 1.000 tỷ đồng đến trên 70.000 tỷ đồng mỗi năm.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách tại các tỉnh, thành phố có hệ thống cảng biển lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Ninh: Tham khảo căn cứ thực tiễn từ Nghị quyết 148 đến Nghị quyết 24 để xây dựng biểu mức thu hợp lý, bảo đảm hài hòa giữa nguồn thu ngân sách và chỉ số phát triển logistics.

Thứ ba, cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu, logistics và 39 đơn vị khai thác kinh doanh cảng biển: Hiểu rõ cơ chế quản lý, thủ tục chứng từ và phương thức kê khai điện tử để tối ưu hóa thời gian thông quan, cắt giảm chi phí lưu bãi.

Thứ tư, các viện nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Tài chính công, Quản lý công và Quản trị An ninh phi truyền thống: Nguồn tài liệu học thuật giá trị ứng dụng phương trình 3S - 3C vào quản trị rủi ro cơ quan hành chính nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

Căn cứ pháp lý nào khẳng định thẩm quyền thu phí hạ tầng cảng biển của thành phố Hải Phòng? Thẩm quyền được xác lập vững chắc căn cứ theo Khoản 1 Điều 21 và Điều 22 Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13, Điểm b Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 250/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính, và được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 148/2016/NQ-HĐND do Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng ban hành ngày 13/12/2016.

Nguồn thu phí hạ tầng cảng biển đóng góp tỷ trọng bao nhiêu trong cơ cấu ngân sách địa phương? Nguồn thu phí hạ tầng cảng biển đạt từ 1.550 tỷ đồng đến 1.800 tỷ đồng mỗi năm, chiếm tỷ trọng khoảng 7% tổng thu ngân sách thành phố Hải Phòng (trong tổng số hơn 71.800 tỷ đồng thu ngân sách năm 2018), tạo nguồn vốn quan trọng để tái đầu tư hạ tầng giao thông.

Mô hình 3S - 3C hỗ trợ quản trị rủi ro công vụ tại Sở Tài chính như thế nào? Mô hình giúp lượng hóa các mối nguy cơ thông qua phương trình S'S = (S1 + S2 + S3) - (C1 + C2 + C3). Từ đó, cán bộ quản trị tập trung gia tăng an toàn S1 và ổn định S2 cho dòng tiền 5 tỷ đồng/ngày, đồng thời giảm thiểu tối đa chi phí rủi ro C1 và khủng hoảng C2 phát sinh trong thực thi công vụ.

Tại sao thành phố Hải Phòng phải ban hành Nghị quyết số 24/2017/NQ-HĐND để sửa đổi mức thu phí? Do mức thu ban đầu nhận được phản ánh từ các hiệp hội ngành hàng về việc phát sinh thêm chi phí hàng tỷ đồng và kéo dài thời gian làm thủ tục hơn 90 phút. Nghị quyết 24 ra đời ngày 08/12/2017 nhằm điều chỉnh giảm mức thu đối với hàng lỏng, hàng rời, bảo đảm tính cạnh tranh kinh tế.

Giải pháp công nghệ nào giúp loại bỏ nguy cơ chậm trễ thông quan cho doanh nghiệp? Việc tích hợp phần mềm thu phí trực tuyến 24/7 với hệ thống hải quan điện tử một cửa cho phép doanh nghiệp nộp phí không dùng tiền mặt, rút ngắn thời gian xử lý từ 90 phút xuống dưới 15 phút và hỗ trợ đối soát tự động toàn bộ dữ liệu thu nộp.

Kết luận

  • Đề tài khẳng định vị thế tiên phong của thành phố Hải Phòng trong việc khai thác hiệu quả nguồn thu từ 1.550 đến 1.800 tỷ đồng mỗi năm để nâng cấp 100 km hạ tầng kết nối 47 bến cảng.
  • Luận văn đã phân tích sâu sắc các nguy cơ rủi ro công vụ trong quá trình chuyển giao chính sách thu phí theo Luật Phí và lệ phí 2015, từ lỗi kỹ thuật đối soát đến xung đột lợi ích với doanh nghiệp.
  • Nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học vững chắc thông qua việc vận dụng sáng tạo phương trình an ninh phi truyền thống 3S - 3C vào quản trị tài chính công cấp tỉnh.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ xác lập lộ trình rõ ràng nhằm kiểm soát tỷ lệ nợ đọng dưới 1% và tối ưu hóa thời gian xử lý thủ tục cho giai đoạn 2020-2025.
  • Các cơ quan tài chính địa phương cần chủ động áp dụng các giải pháp số hóa quy trình thu nộp và đẩy mạnh đối thoại công - tư để vừa bảo đảm an ninh nguồn thu vừa thúc đẩy kinh tế cảng biển phát triển bền vững.