CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 Tổng quan về công ty chứng khoán 1.1 Khái niệm Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội để tạo thành nguồn vốn lớn cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư. Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra hoạt động mua bán các loại chứng khoán, tuy vậy không phải mọi người được mua bán trao đổi trực tiếp với nhau mà mọi giao dịch được thông qua trung gian môi giới, dưới sự giám sát và điều hành của Ủy ban chứng khoán Nhà nước. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán cho thấy, ban đầu các nhà môi giới hoạt động độc lập với nhau. Sau này cùng với sự phát triển của quy mô, khối lượng giao dịch cũng như chức năng của nhà môi giới đã đòi hỏi CTCK ra đời- là nơi tập trung những nhà môi giới riêng lẻ.
Công ty chứng khoán đóng vai trò là tổ chức trung gian trong các giao dịch trên thị trường chứng khoán, dưới vai trò pháp lý là một doanh nghiệp được thành lập và hoạt động tuân theo pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán. Theo quy định tại Điều 2 Thông tư 210/2012/TT-BTC ban hành, công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán, thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán. CTCK được sự quản lý trực tiếp của cơ quan quản lý chuyên trách là UBCKNN và chịu sự điều chỉnh của Luật chứng khoán và các quy định pháp luật có liên quan.2 Vai trò của công ty chứng khoán Với vai trò là chủ thể tham gia trên TTCK, CTCK một phần đã tạo ra sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng. Với các hoạt động của mình, CTCK thể hiện lên những vai trò nổi bật như: làm cầu nối giữa cung- cầu chứng khoán, điều tiết- bình ổn giá thị trường, cung cấp dịch vụ cho thị trường chứng khoán.
5 6 Vai trò làm cầu nối giữa cung- cầu chứng khoán Sau khi được phát hành trên thị trường sơ cấp, chứng khoán sẽ được giao dịch trên thị trường thứ cấp. Tại thị trường sơ cấp, CTCK đóng vai trò là trung gian giao dịch của nhà đầu tư và tổ chức phát hành, thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, CTCK giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán và phân phối chứng khoán, cung cấp thông tin một cách chính xác, hợp lý và kịp thời tới nhà đầu tư. Trên thị trường thứ cấp, CTCK là trung gian kết nối các nhà đầu tư với nhau. Với các hoạt động là: môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch từ đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư của nhà đầu tư.
Vai trò điều tiết, bình ổn giá thị trường Sự tăng trưởng quá nóng hoặc sự sụt giảm sâu của giá chứng khoán sẽ gây tác động động không tốt đến tâm lý nhà đầu tư và sự phát triển bền vững của TTCK. Thông qua hoạt động của mình, đặc biệt là hoạt động tự doanh, CTCK sẽ giúp thị trường hạn chế được những sự bất ổn thông qua động mua hoặc bán chứng khoán. Để vai trò đó được thực hiện tốt, thì pháp luật ở nhiều nước có quy định các CTCK có nghiệp vụ tự doanh phải dành ra một tỷ lệ nhất định nảo đó của mình để mua chứng khoán khi giá giảm và bán chứng khoán dự trữ ra khi giá lên quá cao nhằm góp phần điều tiết và bình ổn giá thị trường. Vai trò cung cấp dịch vụ cho thị trưởng chứng khoán Trong bối cảnh hiện nay, với sự cạnh tranh gay gắt, các CTCK không ngừng phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp của mình.
Thông qua quá trình tiếp xúc với khách hàng, CTCK sẽ cung cấp, thiết kế các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Từ đó giúp đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa cơ cấu của nhóm khách hàng, dem lại sự thỏa mãn cho các nhà đầu tư.3 Các nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán Nghiệp vụ môi giới "Môi giới chứng khoán là việc làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng" (Khoản 3 Điều 1 Luật Chứng khoản sửa đổi 2010). Hoạt động môi chứng khoán được thực hiện bởi nhà môi giới hay công ty môi giới chứng khoán. Đây 6 7 là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng trên tổng doanh số mà khách hàng thực hiện mua bán.
Khi thực hiện hoạt động môi giới, các CTCK chỉ đơn thuần làm trung gian hưởng hoa hồng, khách hàng là người yêu cầu thực hiện và hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với kết quả kinh tế của giao dịch đó. CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch (đặt lệnh, chuyển lệnh đến thị trường phù hợp để thực hiện, xác nhận cho khách hàng, thanh toán và giao hàng,…) thông qua cơ chế giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán hay thị trường OTC. Trong quá trình thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán, các CTCK phải tuân thủ những quy định trong quy chế của công ty và pháp luật của nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán để đảm bảo lợi ích thuận tiện cho khách hàng. Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán “Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình” (Khoản 21 Điều 6 Luật Chứng khoán 2006) Hoạt động tự doanh của CTCK có thể được thực hiện trên thị trường giao dịch tập trung hoặc trên thị trường OTC.
Mục đích chủ yếu của CTCK khi thực hiện hoạt động này nhằm thu lợi cho chính mình từ lợi tức và chênh lệch giá mua bán chứng khoán. Hoạt động này mang lại khả năng sinh lời cao cho CTCK nhưng khả năng gặp phải rủi ro mất giá chứng khoán cũng rất lớn. Nhằm đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động của các CTCK phải có sự tách bách giữa nghiệp vụ tự doanh và nghiệp vụ môi giới chứng khoán. Sự tách bạch này bao gồm cả yếu tố con người và cả quy trình nghiệp vụ.
Nghiệp vụ bảo lãnh phát hàng chứng khoán “Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành phân phối chứng khoán ra công chúng” (Khoản 3 Điều 1 Luật Chứng khoán sửa đổi 2010) Hoạt động bảo lãnh phát hành gồm: - Nghiên cứu và tư vấn cho tổ chức phát hành về các thủ tục pháp lý liên quan đến đợt phát hành, tư vấn thời điểm phát hành, loại chứng khoán phát hành, giá phát hành,… 7 8 - Thỏa thuận với các nhà bảo lãnh khác trong việc tiếp thị, phân phối chứng khoán phát hành, giá phát hành. - Quản lý việc phân phối, thanh toán, bình ổn giá chứng khoán. Nghiệp vụ tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán “Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc cung cấp cho các nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán” (Khoản 3 Điều 2 Luật Chứng khoán sửa đổi 2010) Các chuyên viên tư vấn luôn phải thận trọng khi đưa ra các lời bình luận, những báo cáo phân tích về giá trị chứng khoán, tình hình thị trường và các khuyến nghị đầu tư vì các ý kiến của chuyên viên tư vấn thường có tác động rất lớn đến quyết định của nhà đầu tư. Do hoạt động tư vấn có thể đem lại lợi nhuận rất cao cho khách hàng nhưng cũng có thể làm cho họ thua lỗ rất lớn nên các chuyên viên tư vấn phải đảm bảo các nguyên tắc sau khi thực hiện hoạt đồng này: - Không được mời chào hay dụ dỗ khách hàng mua hay bán một loại chứng khoán nào đó vì mục đích riêng.
- Không được đảm bảo độ chắc chắn về giá trị chứng khoán vì giá trị chứng khoán không phải là một số cố định, nó phụ thuộc vào diễn biến thị trường. - Luôn nhắc nhở khách hàng là ý kiến tư vấn chỉ mang tính tham khảo. mọi quyết định đầu tư cuối cùng đều phụ thuộc vào khách hàng và CTCK không chịu trách nhiệm về thiệt hại của khách hàng do hoạt động này gây ra. - Bảo đảm tính trung thực và khách quan của hoạt động tư vấn, ý kiến tư vấn là kết quả của quá trình phân tích, tổng hợp một cách khoa học, logic.
- Không được tiền hành bất cứ hoạt động gì làm cho khách hàng hiểu lầm về giá trị, giá của bất kỳ loại chứng khoán nào. Các nghiệp vụ khác Lưu ký chứng khoán: là việc lưu giữ và bảo quản chứng khoán của khách hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyền đối với chứng khoán lưu ký. Khi thực hiện lưu ký chứng khoán, CTCK sẽ thu phí: phí gửi, chuyển nhượng chứng khoán. Mua ký quỹ: nhà đầu tư chỉ cần có một phần tiền trong tổng giá trị số chứng khoán đặt mua, phần còn lại do CTCK cho vay.
Sauk hi giao dịch được thực hiện, số chứng khoán đã được CTCK giữ lại làm thế chấp cho khoản vay. 8 9 Bán khống: là giao dịch bán chứng khoán không thuộc sở hữu của người bán. CTCK có thể cho khách hàng vay chứng khoán để bán. Khi thực hiện giao dịch này, nhà đầu tư kỳ vọng giá chứng khoán sẽ giảm trong tương lai, khi đó họ sẽ mua được với giá rẻ hơn và trả cho CTCK.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán 1.1 Khái niệm, đặc điểm rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán Ở các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, rủi ro được định nghĩa khác nhau gắn với những nguyên tắc nhất định của từng linh vực.
Tùy thuộc vào từng trường phái và góc nhìn khác nhau của nhà nghiên cứu mà những định nghĩa của rủi ro sẽ là khác nhau. Nhưng nhìn chung, theo một góc nhìn tổng quát nhất, khái niệm rủi ro được chia theo hai trường phái: Trường phái truyền thống và Trường phái hiện đại.