CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH 1. Tổng quan về công ty tài chính 1. Khái niệm, đặc điểm về công ty tài chính Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư và cung ứng các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm. Theo Luật tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng.
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác. So với ngân hàng và các tổ chức khác, CTTC có một số đặc điểm khác biệt như: - Mức vốn pháp định: Theo quy định tại Nghị định 86/2019/NĐ - CP, mức vốn pháp định đối với CTTC là 500 tỷ đồng và thấp hơn so với ngân hàng. Phần vốn pháp định góp bằng tiền phải được gửi vào tài khoản phong tỏa không được hưởng lãi mở tại ngân hàng nhà nước trước khi hoạt động tối thiểu 30 ngày. Số vốn này chỉ được giải tỏa sau khi CTTC khai trương hoạt động.
- Phạm vi hoạt động: CTTC được thành lập công ty trực thuộc, có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập để hoạt động dịch vụ tài chính, tiền tệ, môi giới, bảo hiểm, chứng khoán và tư vấn theo quy định của pháp luật. - Thời gian hoạt động của các công ty tài chính: Theo quy định, các CTTC chỉ được hoạt động trong vòng 50 năm trở xuống. Nếu muốn gia hạn thêm thời gian, các tổ chức phải làm đơn yêu cầu và được ngân hàng nhà nước đồng ý. Thời gian gia hạn không được vượt quá 50 năm.
Nghiệp vụ kinh doanh của công ty tài chính CTTC có thể thực hiện một số hoạt động như: huy động vốn, cho vay, bảo lãnh và các hoạt động khác (đầu tư, kinh doanh vàng và thực hiện dịch vụ kiều hối),… Huy động vốn: Về lĩnh vực hoạt động, các CTTC chủ yếu hoạt động dưới hình thức kêu gọi vốn. Đây là yếu tố quan trọng, có khả năng ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của công ty. Hoạt động huy động vốn bao gồm: - Nhận tiền gửi của các cá nhân hay tổ chức từ 1 năm trở lên theo quy định từ ngân hàng nhà nước. - Tiếp nhận nguồn vốn ủy thác của các cá nhân, tổ chức trong ngoài nước và của Chính phủ.
- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu cùng những chứng chỉ tiền gửi, giấy tờ có giá trị khác nhằm huy động nguồn vốn ở trong và ngoài nước. - Vay tiền từ các tổ chức tín dụng, tài chính trong và ngoài nước hoặc vay các tổ chức tài chính quốc tế. Hoạt động cho vay: Bên cạnh huy động vốn thì hoạt động cho vay tại CTTC cũng rất đa dạng như: - Vay ngắn hạn, trung hạn và cả dài hạn theo quy định của ngân hàng nhà nước. - Cho vay tiêu dùng thông qua vay trả góp - Cho vay dưới sự ủy thác của Chính phủ hoặc các cá nhân, tổ chức ở trong và ngoài nước.
Các hình thức cho vay của CTTC bao gồm: - Vay tiền theo bảng sao kê lương - Vay tiền theo cavet xe máy của chính chủ - Vay vốn bằng hóa đơn tiền điện - Vay vốn theo hợp đồng bảo hiểm nhân thọ - Các hình thức vay khác Ngoài ra, công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính còn tham gia hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và những giấy tờ có giá trị khác. 4 Hoạt động bảo lãnh: Các công ty hoạt động tài chính được bảo lãnh dựa trên sự uy tín và khả năng tài chính đối với người nhận bảo lãnh. Hiện nay, có các loại hình bảo lãnh bao gồm: - Bảo lãnh vay vốn - Bảo lãnh thanh toán - Bảo lãnh dự thầu - Bảo lãnh bảo đảm chất lượng của sản phẩm - Bảo lãnh thực hiện hợp đồng - Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước - Bảo lãnh đối ứng - Bảo lãnh xác nhận. Các hoạt động khác: Ngoài ra, các công ty trong lĩnh vực tài chính còn có thể tiến hành các hoạt động theo quy định hiện hành.
Trong đó có: - Góp vốn mua cổ phần cho những doanh nghiệp hoặc tổ chức tín dụng khác. - Hoạt động đầu tư. - Tham gia vào thị trường ngoại hối. - Kinh doanh vàng và thực hiện dịch vụ kiều hối.
- Cung cấp các dịch vụ tư vấn có liên quan đến tài chính, ngân hàng, đầu tư hay tiền tệ. - Cung ứng dịch vụ về bảo quản hiện vật quý, cho thuê các tủ két, cầm đồ hoặc các giấy tờ có giá trị. - Được cho phép trở thành đại lý để phát hành trái phiếu hay cổ phiếu, các loại giấy tờ khác cho công ty, doanh nghiệp. - Được quyền ký nhận ủy thác, trở thành một đại lý trong lĩnh vực liên quan đến tài chính ngân hàng, bảo hiểm hoặc đầu tư, quản lý tài sản và vốn đầu tư của các cá nhân, tổ chức theo hợp đồng.
Rủi ro tài chính trong hoạt động kinh doanh của CTTC 1. Khái niệm và đặc điểm rủi ro trong hoạt động kinh doanh của CTTC Ở các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, rủi ro được định nghĩa khác nhau gắn với những nguyên tắc nhất định của từng lĩnh vực. Tùy thuộc vào từng trường phái và góc nhìn khác nhau của nhà nghiên cứu mà những định nghĩa của rủi ro sẽ là 5 khác nhau. Nhưng nhìn chung, theo một góc nhìn tổng quát nhất, khái niệm rủi ro được chia theo hai trường phái: Trường phái truyền thống và Trường phái hiện đại.
Theo trường phái truyền thống: Rủi ro là vấn đề không được mong đợi trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Rủi ro được hiểu một cách khái quát đó là khả năng xảy ra các biến cố không lường trước, khi xảy ra sẽ làm cho kết quả thực tế khác với kết quả kỳ vọng theo kế hoạch. Rủi ro luôn xuất hiện bất ngờ và đe dọa sự tồn tại của DN, tuy nhiên muốn có lợi nhuận thì phải đánh đổi nó, không được né tránh nó. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, các DN phải đương đầu với rủi ro có thể xảy ra bằng cách tiên liệu các RR có thể xảy ra để tìm biện pháp phòng ngừa, hạn chế nhằm giảm thiểu thiệt hại do RR gây ra.
Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người. Theo trường phái hiện đại: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực và vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai.
Trong kinh doanh, rủi ro được hiểu là nhân tố làm cho tác động tiêu cực đến lợi nhuận của DN. Rủi ro làm giảm lợi nhuận kỳ vọng và đôi khi còn làm cho DN mất lợi nhuận, rơi vào trạng thái lỗ và dẫn đến phá sản. Tuy nhiên, đứng trên góc nhìn mang lại nhiều ý nghĩa thực tiễn nhất đó là đứng trên góc độ rủi ro tài chính bởi đó là quan niệm không chia cắt giữa rủi ro và lợi nhuận, góc nhìn này cho rằng rủi ro luôn tồn tại và song hành với lợi nhuận được tạo ra. Do vậy, rủi ro là tất yếu và những nhà quản lý luôn cần những biện pháp để hạn chế rủi ro, từ đó đem về lợi nhuận cao nhất cho DN của mình.
Từ những khái quát chung nhất về rủi ro như trên, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của rủi ro trong hoạt động kinh doanh của CTTC như sau: - Rủi ro mang tính tất yếu, luôn tồn tại và gắn liền với HĐKD của công ty. Điều này xuất phát từ đặc điểm cơ sở khách hàng, mối quan hệ cung cầu về dịch vụ 6 tín dụng và môi trường kinh doanh. Những rủi ro luôn tiềm ẩn trong HĐKD của công ty và vì vậy các công ty sẽ luôn muốn tìm ra những biện pháp để kiểm soát rủi ro một cách tốt nhất. - Các CTTC được phép nhận tiền gửi và cung cấp tín dụng nhưng không phải tuân thủ các quy định an toàn của ngân hàng, dẫn đến các rủi ro đối với hệ thống.
Thứ nhất, các tổ chức này rất dễ bị tổn thương khi khách hàng yêu cầu được thanh toán trước khi đến hạn rút tiền hoặc rút tiền trong một khoảng thời gian ngắn. Điều này không chỉ dẫn tới rủi ro thanh khoản cho CTTC mà còn đe dọa đến an toàn hệ thống trong trường hợp người gửi tiền mất niềm tin và rút tiền ồ ạt trong cả hệ thống tài chính. Thứ hai, do các CTTC không phải tuân thủ các quy định an toàn chặt chẽ như của ngân hàng, các tổ chức này có thể phối hợp với các NHTM để “lách luật”, phá vỡ các quy định. Ví dụ, ngân hàng có thể cho vay các CTTC và CTTC lại cho vay khách hàng mà ngân hàng không được phép cho vay trực tiếp theo các quy định về an toàn của ngành.
Trên thực tế, lịch sử đã ghi nhận trường hợp các CTTC nhận tiền gửi ở New Zealand đã tăng trưởng nhanh chóng và sau đó sụp đổ, tạo ra rủi ro hệ thống nghiêm trọng, vào các năm 2007 - 2011. - Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp. Đặc điểm này thể hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân gây ra rủi ro trong HĐKD của CTTC cũng như diễn biến sự việc, hậu quả khi rủi ro xảy ra. Rủi ro tài chính và phân loại rủi ro tài chính trong hoạt động kinh doanh của CTTC Rủi ro tài chính là những rủi ro liên quan đến sự giảm giá tài chính (còn gọi là rủi ro kiệt quệ tài chính) và rủi ro từ việc thực hiện các quyết định tài chính làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của DN.