Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị rủi ro trong hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Chương 2: Phương pháp luận nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN CƠ SỞ 1. Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở và những rủi ro trong hoạt động của nó 1. Khái quát về quỹ tín dụng nhân dân cơ sở 1. Khái niệm quỹ tín dụng nhân dân cơ sở QTDND cơ sở là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tƣơng trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống, bảo đảm bù đắp đủ chi phí và có tích lũy để phát triển.
Mô hình tổ chức hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Theo quy định tại Thông tƣ số 08/2005/TT-NHNN ngày 30/12/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, hƣớng dẫn thực hiện Nghị định số 48/2001/NĐ- CP ngày 13/8/2001 về tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân và Nghị định số 69/2005/NĐ- CP ngày 26/5/2005 của Chính phủ về việc sử đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 48/2001/NĐ- CP ngày 13/8/2001 của chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân: “Đối với Quỹ tín dụng cơ sở có nguồn vốn hoạt động từ 5.000 đồng (năm tỷ đồng) trở xuống có thể thành lập một bộ máy vừa quản lý vừa điều hành; Đối với Quỹ tín dụng cơ sở có nguồn vốn hoạt động trên 5.000 đồng (năm tỷ đồng) phải thành lập riêng bộ máy quản lý và bộ máy điều hành. Đối với những Quỹ tín dụng cơ sở có dƣới 1.000 thành viên và nguồn vốn hoạt động từ 5.000 đồng (năm tỷ đồng) trở xuống thì việc bầu Ban kiểm soát hoặc có thể chỉ bầu một kiểm soát viên chuyên trách mà không phải bầu Ban kiểm soát do Đại hội thành viên quyết định.” Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ĐẠI HỘI THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN ĐIỀU HÀNH BAN KIỂM SOÁT BAN GIÁM BỘ PHẬN KẾ BỘ PHẬN BỘ PHẬN ĐỐC TOÁN TÍN DỤNG KHO QUỸ Quan hệ chỉ đạo, điều hành Quan hệ báo cáo Quan hệ kiểm tra, kiểm soát Đối với các QTDND cơ sở thành lập riêng bộ máy quản trị, điều hành thì Chủ tịch Hội đồng quản trị làm việc chuyên trách và Ban kiểm soát gồm 03 ngƣời; đối với các QTDND cơ sở thành lập một bộ máy vừa quản trị, vừa điều hành thì Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm giám đốc điều hành và chỉ có 01 kiểm soát viên chuyên trách. Các hoạt động cơ bản của quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Hoạt động huy động vốn Đây là hoạt động cơ bản, rất quan trọng ảnh hƣởng tới chất lƣợng hoạt động của QTDND cơ sở, theo quy định tại Thông tƣ số 08/2005/TT-NHNN ngày 30/12/2005 của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, QTDND cơ sở đƣợc huy động vốn từ những nguồn sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 9 - Quỹ tín dụng cơ sở đƣợc huy động vốn của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác (ngoài hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân) dƣới hình thức nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm; - Quỹ tín dụng cơ sở đƣợc vay vốn của Ngân hàng hợp tác xã, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác (ngoài hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân); Trong trƣờng hợp gặp khó khăn về tài chính, Quỹ tín dụng cơ sở đƣợc vay vốn của Quỹ tín dụng cơ sở khác khi đƣợc Giám đốc Ngân hàng Nhà nƣớc chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng cho phép (sau khi Ngân hàng Nhà nƣớc chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng báo cáo và đƣợc Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc chấp thuận). Trên cơ sở nguồn vốn huy động đƣợc QTDND cơ sở tiến hành cho các thành viên vay vốn phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phƣơng Hoạt động tín dụng Cho vay đƣợc coi là hoạt động quan trọng nhất của các QTDND cơ sở, vì phần lớn lợi nhuận của QTDND cơ sở chủ yếu là thu từ hoạt động này.
Theo số liệu thống kê nhìn chung thì khoảng 90% - 95% thu nhập của các QTDND cơ sở là từ các hoạt động cho vay. Thành công hay thất bại của một QTDND cơ sở tùy thuộc chủ yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất phát từ chính sách cho vay của QTDND cơ sở. Cho vay thƣơng mại: là việc cho vay đối với các thành viên nhằm phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế hộ gia đình của các thành viên QTDND cơ sở. Cho vay tiêu dùng: là việc cho vay đối với các thành viên nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của các thành viên nhƣ: cho vay xây, sửa nhà; cho vay mua sắm trang thiết bị gia đình, cho vay mua sắm phƣơng tiện đi lại; cho vay khám chữa bệnh…hầu hết các mục đích vay vốn này không sinh lời từ vốn vay, độ rủi ro cao hơn hình thức cho vay thƣơng mại nên lãi suất cho vay thƣờng cao hơn cho vay thƣơng mại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 10 Các hoạt động khác: Gửi vốn tại Ngân hàng hợp tác và các TCTD khác: Khi huy động tiền gửi của khách hàng, một phần lớn lƣợng tiền gửi đƣợc các QTDND cơ sở thực hiện cho thành viên vay vốn thông qua hoạt động tín dụng, phần còn lại một phần để tồn quỹ tiền mặt nhằm đảm bảo khả năng thanh toán ngay, một phần các QTDND cơ sở đi gửi tại Ngân hàng hợp tác hoặc các TCTD khác để đảm bảo an toàn và khả năng chi trả. Đầu tƣ vào trang thiết bị, TSCĐ phục vụ hoạt động kinh doanh. Bảo quản tài sản: Các QTDND cơ sở thực hiện việc lƣu giữ giấy tờ có giá và các tài sản khác cho khách hàng trong kho và két sắt của QTDND cơ sở nhƣ giấy chứng nhận quyền sở dụng đất, sổ tiền gửi của khách hàng do chính QTDND cơ sở đó phát hành, các giấy tờ khác liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố của khách hàng tại QTDND cơ sở. Nhìn chung, trong tất cả các hoạt động cơ bản của QTDND cơ sở thì hoạt động tín dụng đƣợc đánh giá là quan trọng nhất bởi hoạt động này thƣờng chiếm 80% - 85% danh mục tài sản có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các QTDND cơ sở.
Mục tiêu hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Mục tiêu hoạt động chủ yếu của QTDND cơ sở là tƣơng trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống, bảo đảm bù đắp đủ chi phí và có tích lũy để phát triển. Rủi ro và các chỉ số phản ảnh rủi ro trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Khái niệm rủi ro: Theo quan điểm truyền thống, rủi ro là những sự kiện có thể xảy ra làm cho mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ, không thể đo lƣờng đƣợc. Theo quan điểm hiện đại, rủi ro bao hàm nghĩa rộng hơn và có thể đo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 11 lƣờng đƣợc, rủi ro không chỉ tính đến rủi ro tài chính mà còn phải tính đến rủi ro liên quan đến những mục tiêu hoạt động và mục tiêu chiến lƣợc. Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà Ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ tiền lãi hoặc tiền gốc theo các điều kiện và cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Theo Khoản 1, Điều 2, Quyết định số 493/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam, đề cập khái niệm “rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Theo quan điểm tác giả: Rủi ro tín dụng là tổn thất tiềm năng có thể xảy ra do khách hàng không có khả năng hoặc không có đủ năng lực để thực hiện nghĩa vụ của họ một cách đầy đủ theo cam kết. Rủi ro tín dụng chính là khả năng xảy ra sự khác biệt không mong muốn giữa thu nhập thực tế và thu nhập kỳ vọng đúng hạn, nhận đƣợc đầy đủ gốc và lãi. Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trƣờng của vốn.
Các chỉ số phản ánh rủi ro trong hoạt động tín dụng của QTDND cơ sở: Quy mô tín dụng: Quy mô tín dụng không phải là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp rủi ro tín dụng nhƣng nếu quy mô tín dụng tăng quá nóng, không tƣơng ứng với khả năng kiểm soát của QTDND cơ sở thì lúc đó, quy mô tín dụng sẽ phản ánh rủi ro tín dụng. Sự thể hiện này ở các khía cạnh: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 12 Thứ nhất, nếu quy mô tín dụng quá lớn (xét trên tổng dƣ nợ của QTDND cơ sở), vƣợt quá khả năng quản lý của QTDND cơ sở thể hiện qua sự gia tăng các chỉ tiêu: dƣ nợ/ tổng tài sản; dƣ nợ/ số lƣợng cán bộ tín dụng so với mức trung bình của các QTDND cơ sở; số lƣợng khách hàng/ số lƣợng cán bộ tín dụng;…thì mức độ rủi ro tăng lên.