phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc bố cục thành 4 chƣơng với nội dung nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng thiết bị năng lƣợng mặt trời nhập khẩu bằng đƣờng biển Chƣơng 3: Thực trạng quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng thiết bị năng lƣợng mặt trời nhập khẩu từ thị trƣờng Trung Quốc bằng đƣờng biển của Công ty cổ phần Kinh doanh quốc tế Fingroup Chƣơng 4: Định hƣớng phát triển và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng thiết bị năng lƣợng mặt trời nhập khẩu từ thị trƣờng Trung Quốc bằng đƣờng biển của Công ty cổ phần Kinh doanh quốc tế Fingroup 15 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUY TRÌNH NHẬN HÀNG THIẾT BỊ NĂNG LƢỢNG MẶT TRỜI NHẬP KHẨU BẰNG ĐƢỜNG BIỂN 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về nguy cơ, rủi ro, tổn thất 2. Khái niệm về nguy cơ “Nguy cơ là một nguồn, một tình huống hoặc một hành động có tiềm năng gây ra tổn hại đối với con người như tổn thường hay tác hại sức khỏe hoặc kết hợp cả hai tổn hại trên” (Theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7301-1:2008).
Các nguy cơ nếu là dạng bất hoạt hoặc tiềm ẩn chỉ có xác suất gây hại về mặt lý thuyết. Một sự kiện đƣợc gây ra bởi sự tƣơng tác với mối nguy gọi là sự cố. Mức độ nghiêm trọng của các hậu quả không mong muốn của một sự cố liên quan đến một mối nguy, kết hợp với xác suất tạo thành rủi ro liên quan. Khái niệm về rủi ro “Rủi ro là những sự kiện bất lợi, bất ngờ đã xảy ra gây tổn thất cho con người” (Nguyễn Anh Tuấn, 2006, Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại thƣơng, NXB Lao động- Xã hội, trang 16) Mặc dù rủi ro là sự kiện khách quan, xảy ra bất ngờ ngoài mong muốn của con ngƣời, nhƣng con ngƣời hoàn toàn có thể kiểm soát đƣợc rủi ro ở những mức độ khác nhau, từ đó có những biện pháp hạn chế tối đa những tổn thất mà rủi ro gây nên.
Một sự kiện đƣợc coi là rủi ro khi thoả mãn đồng thời ba điều kiện sau: Rủi ro là sự kiện bất ngờ đã xảy ra. Bất ngờ là con ngƣời không thể lƣờng trƣớc đƣợc, nó có thể xuất hiện ở một thời điểm bất kì trong tƣơng lai và ở bất cứ đâu. Mọi rủi ro đều là bất ngờ và sự kiện bất ngờ đó đã phải xảy ra thì mới đƣợc coi là rủi ro. Rủi ro là những sự cố gây ra tổn thất.
Mọi rủi ro xảy ra đều dẫn đến tổn thất; tuy nhiên, tổn thất đó có thể không đáng kể hoặc tổn thất gián tiếp. Rủi ro là sự kiện ngoài mong đợi. Rủi ro gây ra tổn thất, là sự cố bất ngờ nằm ngoài mong đợi của con ngƣời, do đó, nó thể hiện tính khó lƣờng trƣớc, tính khách quan và loại bỏ ý chủ quan của các chủ thể tham gia hoạt động. Việc nghiên cứu rủi ro thực chất nhằm đạt đƣợc mục đích cuối cùng là hạn chế những thiệt hại, tổn thất cho các đối tƣợng liên quan.
Cụ thể là việc nghiên cứu rủi ro 16 đƣợc xem xét trong những phạm vi và đối tƣợng nhất định trong từng hoạt động bởi sự kiện xảy ra đƣợc coi là rủi ro với đối tƣợng này nhƣng lại là cơ hội cho đối tƣợng khác. Khái niệm về tổn thất “Tổn thất là những thiệt hại, mất mát về tài sản; cơ hội mất hưởng; về con người, tinh thần, sức khoẻ và sự nghiệp của họ do những nguyên nhân từ các rủi ro gây ra.TS Doãn Kế Bôn, 2009, Giáo trình quản trị tác nghiệp thƣơng mại quốc tế, trang 336). Tổn thất có thể là hữu hình (những thiệt hại về tài sản, con ngƣời, hàng hoá,.) và có thể là vô hình (tổn thất tinh thần, mất uy tín trong kinh doanh, đe dọa sự nghiệp,. Trong hoạt động thƣơng mại quốc tế, thƣờng ngƣời ta chỉ đề cập đến những tổn thất hữu hình.
Nhƣ vậy, rủi ro và tổn thất là hai phạm trù khác nhau, cùng phản ánh một sự kiện bất ngờ xảy ra, nhƣng có mối quan hệ nhân quả. Trong đó, rủi ro là nguyên nhân còn tổn thất là hậu quả. Rủi ro phản ánh về mặt chất của sự kiện bao gồm nguyên nhân, mức độ, tính chất nguy hiểm; còn tổn thất về mặt lƣợng của sự kiện bao gồm phản ánh về thiệt hại, mất mát về vật chất và tinh thần. Khái niệm về quản trị rủi ro “Quản trị rủi ro là quá trình nhận dạng, phân tích (bao gồm cả đo lường và đánh giá) rủi ro, xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm soát, tài trợ để khắc phục các hậu quả của rủi ro” (PGS.
TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình quản trị rủi ro, trang 28) Mục đích của quản trị rủi ro là tối ƣu hoá sử dụng các nguồn lực để tối thiểu hoá những tổn thất do rủi ro gây ra và khai thác những cơ hội từ rủi ro đó. Quá trình quản trị rủi ro gồm các nội dung: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro. Trong đó : “Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định một cách liên tục và có hệ thống các rủi ro có thể xảy ra trong các hoạt động của doanh nghiệp.TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình quản trị rủi ro, trang 39). “Phân tích rủi ro là quá trình nghiên cứu những hiểm hoạ, xác định nguyên nhân gây ra rủi ro và phân tích những tổn thất” (PGS.TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình quản trị rủi ro, trang 69).
17 “Kiểm soát rủi ro là hoạt động liên quan đến việc đưa ra và sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ khác nhau nhằm phòng ngừa và giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động của tổ chức” (PGS.TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình quản trị rủi ro, trang 82). “Tài trợ rủi ro là tập hợp các hoạt động nhằm tạo ra và cung cấp những phương tiện (hay nguồn lực) để khắc phục hậu quả hay bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra, gây quỹ dự phòng cho những chương trình để giảm bớt bất trắc và rủi ro hay để gia tăng những kết quả tích cực” (PGS.TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình quản trị rủi ro, trang 97). Quản trị rủi ro có vai trò quan trọng đối với sự tổn tại và phát triển của doanh nghiệp. Quản trị rủi ro giúp nhà quản trị nhận dạng, giảm thiểu và triệt tiêu những nguyên nhân gây ra rủi ro, từ đó hạn chế và xử lý tốt nhất những hậu quả khi rủi ro xảy ra.
Đồng thời, quản trị rủi ro giúp doanh nghiệp thực hiện tốt nhất các mục tiêu, chiến lƣợc đề ra, cùng với đó là tối ƣu các nguồn lực của tổ chức, doanh nghiệp. Khái niệm quy trình nhận hàng nhập khẩu Nhận hàng nhập khẩu bằng đƣờng biển là dịch vụ liên quan đến vận chuyển và làm các thủ tục để nhận hàng nhập khẩu thông qua phƣơng thức vận chuyển đƣờng biển. Dịch vụ nhận hàng nhập khẩu bằng đƣờng biển bao gồm toàn bộ khối lƣợng công việc nhận hàng từ ngƣời bán, trong đó phải chuẩn bị kiểm tra toàn bộ chứng từ hàng hoá, kiểm tra đối chiếu với các quy định,. để công việc vận chuyển tiến hành trôi chảy, tiết kiệm và hiệu quả.
Vậy quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển là quá trình nhận dạng, phân tích rủi ro, xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm soát, tài trợ để khắc phục các hậu quả rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển. Quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đƣờng biển phải đảm bảo nhận dạng đƣợc rủi ro, đánh giá mức độ nguy hiểm của rủi ro và đƣa ra các biện pháp hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất do rủi ro mang đến trong từng nghiệp vụ từ lúc tiếp nhận yêu cầu khách hàng đến khi giao hàng cho khách hàng. Cơ sở lý luận cơ bản về quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đƣờng biển 2. Nội dung quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển 2.
Nắm tình hình hàng hoá và phương tiện vận tải Công ty dịch vụ giao nhận ký hợp đồng với nhà nhập khẩu (NK), nhà NK sẽ cung cấp một bộ hồ sơ chứng từ gồm: - Vận đơn (01 bản chính) - Phiếu đóng gói hàng hóa (01 bản chính) - Hóa đơn thƣơng mại (01 bản chính) - Hợp đồng (01 bản chính) - Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O- 01 bản chính) Nhân viên phòng kinh doanh sau khi nhận bộ hồ sơ gốc và ký xác nhận cho nhà NK là đã đầy đủ chứng từ. Công ty giao nhận nắm bắt đƣợc tình hình hàng hoá bên NK và tiến hành lƣu cƣớc, đăng ký chuyến phƣơng tiện vận tải. Chuẩn bị chứng từ nhận hàng nhập khẩu Nhân viên giao nhận khi nhận bộ chứng từ sẽ kiểm tra kỹ các thông tin trên các chứng từ và kiểm tra số liệu giữa các chứng từ với nhau đảm bảo các số liệu khớp nhau. Nếu số liệu không khớp nhau thì liên lạc với nhà NK để kịp thời bổ sung, chỉnh sửa.
Theo đó: - Kiểm tra kỹ thông tin trên chứng từ, trong đó: + Hợp đồng mua bán cần kiểm tra số, ngày ký hợp đồng, thông tin hàng hoá, điều kiện giao hàng, phƣơng thức thanh toán,. + Hoá đơn thƣơng mại: kiểm tra số, ngày lập hoá đơn, đơn giá, trị giá lô hàng,. + Phiếu đóng gói hàng hóa: kiểm tra trọng lƣợng, thể tích, số lƣợng, thông tin từng loại hàng, cách đóng gói,… + Vận đơn đƣờng biển: kiểm tra số, ngày và nơi phát hành, tên tàu, số chuyến, số container, chì,. + Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá để xem hàng hoá có đƣợc hƣởng ƣu đãi về thuế nhƣ C/O thuộc form E.
- Kiểm tra mã HS của hàng hoá để đảm bảo hàng hóa đƣợc khai mã HS phù hợp. Để xác định mã HS và mô tả hàng hoá chính xác cần dựa vào thông tin về tên 19 hàng, tính chất, chất lƣợng, loại hàng, công dụng của hàng hoá. Đối với các khách hàng cũ thì kiểm tra mã HS còn phù hợp hay không. Ngƣời giao nhận nhận pre-alert (bao gồm MBL, HBL) đƣợc gửi bằng email hoặc fax do đại lý nƣớc ngoài chuyển đến.
Nếu có sự khác biệt giữa MBL và HBL cần viết email báo ngay cho đại lý nƣớc ngoài kiểm tra.