Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Một số vấn đề lý luận về quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng và vận chuyển hàng nhập khẩu bằng đường bộ Chương 3: Thực trạng về quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng và vận chuyển hàng nhập khẩu bằng đường bộ của công ty TNHH&XNK Gia Hân Holdings Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng và vận chuyển hàng nhập khẩu bằng đường bộ của công ty TNHH&XNK Gia Hân Holdings 5 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUY TRÌNH NHẬN HÀNG VÀ VẬN CHUYỂN HÀNG NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BỘ 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về nguy cơ, rủi ro, tổn thất 2. Khái niệm về nguy cơ “Nguy cơ là một nguồn, một tình huống hoặc một hành động có tiềm năng gây ra tổn hại đối với con người, như tổn thường hay tác hại sức khỏe hoặc kết hợp cả hai tổn hại trên” (Theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7301-1:2008) Các nguy cơ nếu là đang bất hoạt hoặc tiềm ẩn, chỉ có xác suất gây hại về mặt lý thuyết.
Một sự kiện được gây ra bởi sự tương tác với mối nguy được gọi là sự cố. Mức độ nghiêm trọng của các hậu quả không mong muốn của một sự cố liên quan đến một mối nguy, kết hợp với xác suất tạo ra tạo thành rủi ro liên quan. Các nguy cơ có thể được phân loại theo nhiều cách. Một trong những cách này là phân loại bằng cách chỉ ra nguồn gốc của mối nguy (phân loại theo nguồn gốc mối nguy).
Một khái niệm quan trọng trong việc xác định mối nguy theo nguồn gốc là sự hiện diện của năng lượng được lưu trữ trong mối nguy, khi được giải phóng, có thể gây ra thiệt hại. Khái niệm về rủi ro “Rủi ro là những sự kiện bất ngờ ngoài mong đợi của con người và gây ra những thiệt hại cho con người trong các hoạt động của mình. Mặc dù rủi ro là sự kiện khách quan, xảy ra ngoài ý muốn của con người, nhưng con người lại hoàn toàn có thể kiểm soát được rủi ro ở những mức độ khác nhau, từ đó có những biện pháp hạn chế tối đa những tổn thất rủi ro mang đến” ( PGS.TS Doãn Kế Bôn, 2009, Giáo trình quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế , Trang 334). * Khi nói đến rủi ro chúng ta cần lưu ý những vấn đề quan trọng như sau: Rủi ro là sự kiện bất ngờ đã xảy ra.
Bất ngờ là con người không thể lường trước được một cách chắc chắn, nó có thể xuất hiện vào một thời điểm bất kỳ trong tương lai và bất 6 cứ nơi đâu. Mọi rủi ro đều là bất ngờ, cho dù mức độ bất ngờ có thể khác nhau và phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức con người, vào quy luật của rủi ro. Sự kiện bất ngờ đó phải đã xảy ra thì mới được coi là rủi ro. Rủi ro là những sự cố gây ra tổn thất.
Khi rủi ro xảy ra, luôn để lại những hậu quả. Hay nói cách khác, mọi rủi ro đều dẫn đến tổn thất, trong một số trường hợp có thể là tổn thất không đáng kể hoặc tổn thất gián tiếp. Rủi ro là sự kiện ngoài mong đợi. Rủi ro mang lại tổn thất, là sự cố bất ngờ và vì thế nó là điều không được mong đợi của mọi người trong mọi hoạt động.
Bên cạnh đó, rủi ro là sự kiện ngoài mong đợi còn nói lên tính khó lường trước, tính khách quan và loại bỏ các ý đồ chủ quan của chủ thể tham gia các hoạt động. Ba vấn đề trên được coi là ba điều kiện của rủi ro. Hay nói cách khác một sự kiện được coi là rủi ro nếu thỏa mãn đồng thời ba điều kiện trên. Việc nghiên cứu rủi ro thực chất nhằm đạt được mục đích cuối cùng là hạn chế những thiệt hại, tổn thất cho các đối tượng có liên quan.
Nghĩa là việc nghiên cứu rủi ro được xem xét trong những phạm vi nhất đinh, gắn với từng đối tượng nhất định trong từng hoạt động, bởi rất có thể một sự kiện xảy ra được coi là rủi ro đối với người này, công ty này nhưng lại là cơ hội, sự may mắn đối với người khác, công ty khác. Khái niệm về tổn thất “Tổn thất là những thiệt hại, mất mát về tài sản, cơ hội mất hưởng về con người, tinh thần, sức khỏe và sự nghiệp của họ do những nguyên nhân từ các rủi ro gây ra” (PGS.TS Doãn Kế Bôn, 2009, Giáo trình quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, Trang 336). Tổn thất có thể là hữu hình (tổn thất tài sản, con người, sức khỏe) và cũng có thể là vô hình (tinh thần, đe dọa sự nghiệp,…). Tổn thất vô hình hoàn toàn có thể đo lường và quy đổi ra thành tiền, và trong không ít các trường hợp tổn thất vô hình còn lớn hơn cả tổn thất hữu hình.
Trong hoạt động thương mại quốc tế, thường người ta chỉ đề cập đến những tổn thất hữu hình. Rủi ro và tổn thất là hai phạm trù khác nhau cùng phản ánh một sự kiện không may xảy ra, nhưng có mối quan hệ nhân quả, theo đó rủi ro là nguyên nhân còn tổn thất là hậu quả. Rủi ro phản ánh về mặt chất của sự kiện, bao gồm nguyên nhân, mức độ tính 7 chất nguy hiểm còn tổn thất phản ánh về mặt lượng của sự kiện bao gồm mức độ thiệt hại, mất mát về vật chất và tinh thần có nguyên nhân từ rủi ro gây ra, qua đó thấy được mức độ nghiêm trọng của sự kiện. Khái niệm về quản trị rủi ro “Quản trị rủi ro là quá trình nhận dạng, phân tích (bao gồm cả đo lường và đánh giá) rủi ro, xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm soát, tài trợ để khắc phục các hậu quả của rủi ro” (PGS.TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình quản trị rủi ro, Trang 28).
Mục tiêu của quản trị rủi ro là tối ưu hóa sử dụng các nguồn lực thông qua việc tối thiểu hóa những thiệt hại do rủi ro gây ra và khai thác những cơ hội từ rủi ro. Quản trị rủi ro không chỉ đơn thuần là hoạt động thụ động, né tránh hay phòng tránh, mà còn là những hoạt động chủ động, tích cực của nhà quản trị trong công việc dự kiến những thiệt hại, tổn thất có thể xảy ra và tìm cách làm giảm nhẹ hậu quả của chúng. Quản trị rủi ro trong tác nghiệp thương mại quốc tế là hệ thống các nghiệp vụ nhằm nhận dạng, đánh giá, đối phó với những nguyên nhân và hậu quả của rủi ro trong quá trình tiến hành các tác nghiệp thương mại quốc tế (PGS.TS Doãn Kế Bôn, 2009, Giáo trình quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, Trang 375). Như vậy quản trị rủi ro trong tác nghiệp thương mại quốc tế không chỉ đơn thuần là nhận dạng được rủi ro mà quan trọng hơn là phải đánh giá được mức độ nguy hiểm của rủi ro và đưa ra các biện pháp hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất do rủi ro mang đến trong từng tác nghiệp của chuỗi tác nghiệp thương mại quốc tế từ khi lựa chọn đối tác cho đến khi thanh toán tiền hàng và thực hiện các nghĩa vụ liên quan khác.
Quản trị rủi ro trong tác nghiệp thương mại quốc tế cần phải được tiến hành một cách đồng bộ từ xác lập kế hoạch nhân sự đến triển khai các tác nghiệp trong từng khâu, từng tác nghiệp với khả năng huy động và vận dụng tối đa các nguồn lực cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp theo phương châm “phòng ngừa” được ưu tiên trước mắt. Khái niệm về dịch vụ giao nhận và vận chuyển hàng nhập khẩu bằng đường bộ Dịch vụ giao nhận (Freight Fowarding Service) là bất kì loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng 8 như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập, chứng từ liên quan đến hàng hóa (theo quy tắc mẫu của FIATA (Hiệp hội giao nhận kho vận quốc tế) về dịch vụ giao nhận). Giao nhận vận chuyển hàng hóa là yêu cầu tất yếu của trao đổi mua bán hàng hóa, nó là một khâu không thể thiếu được trong quá trình lưu thông nhằm đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu bằng đường bộ là dịch vụ liên quan đến vận chuyển và làm các thủ tục để nhận hàng nhập khẩu thông qua phương thức vận chuyển đường bộ.
Dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường bộ đảm nhận toàn bộ khối lượng công việc kể từ khi nhận hàng từ người bán đến khi giao hàng cho người mua. Đồng thời dịch vụ này phải chuẩn bị kiểm tra toàn bộ các chứng từ hàng hóa, kiểm tra đối chiếu với các quy định của nó, trên cơ sở đó tham mưu khách hàng nhập các bộ chứng từ hoàn hảo để công việc vận chuyển tiến hành trôi chảy, tiết kiệm, hiệu quả.2 Một số lí thuyết về quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng và vận chuyển hàng nhập khẩu bằng đường bộ 2. Quy trình nhận hàng và vận chuyển hàng nhập khẩu bằng đường bộ Bước 1: Nhận thông tin về nhu cầu vận chuyển của khách hàng Qua thời gian tiếp nhận nhu cầu của khách hàng, trao đổi về dịch vụ vận chuyển thì người giao nhận sẽ liên hệ với khách hàng để nắm bắt thông tin về lô hàng như: Thông tin về hàng hóa: Khách hàng sẽ cung cấp đầy đủ và chi tiết tên hàng, chức năng của hàng nhập khẩu, nó được làm từ nguyên vật liệu gì để người giao nhận sẽ kiểm tra xem mặt hàng này có nằm trong danh mục hàng được phép nhập khẩu hay hạn chế nhập khẩu và cuối cùng kiểm tra thuế nhập khẩu hàng đó. Hàng hoá nhập khẩu phải đảm bảo các quy định liên quan đến kiểm dịch động thực vật, vệ sinh an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn chất lượng, phải chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý chuyên ngành.
Đối với mặt hàng không được phép nhập khẩu thường liên quan đến vấn đề an ninh, quốc phòng như vũ khí quân sự (súng, đạn.) hay những văn hoá phẩm đồi trụy, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của quốc gia thì nhập khẩu là trái phép.