Chương 1: MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE HOẠT DONG QUAN TRI NOI DUNG TRUYEN THONG CHO NHÀ DAU TƯ TREN WEBSITE CUA CONG TY DAI CHUNG 1.1 Các khái niệm liên quan đến dé tai 1.11 Quản trị và quản trị nội dung truyền thông Quản trị Trong tiếng Anh có hai từ có thể dịch là “quản trị” đó là “Governance” và “Management”. Từ “governance” theo tiếng Latinh là “gubernare”, có nghĩa là hướng dẫn, chỉ đạo, kiêm soát một nhóm người hay một quốc gia. Từ này cũng thường được gắn liền với các hoạt động của chính phủ (government), chính quyền và chủ yếu nói về quyền lực nhà nước, quản trị nhà nước. Trong khi đó, từ “management” mang nghĩa hoạt động điều hành và kiểm soát một doanh nghiệp hay một tổ chức tương tự.
Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn của mình, tác giả cho rằng từ “management” là phù hợp và sát nghĩa với định nghĩa quản tri. Theo từ điển cambridge thì management là hoạt động kiểm soát (control) và tổ chức (organization) một thứ gì đó. Nhiều định nghĩa về quản trị cũng mang hàm ý liên quan đến hoạt động của nhà quản lý để đạt được mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả nhất, mang đặc trưng của công việc quan lý. Trong đó, phải ké đến một số quan điểm như: - Quản trị là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm soát các nguồn lực (nhân lực, tài chính, vật chất) của tổ chức dé đạt được mục tiêu đã đề ra.
Quá trình này đòi hỏi sự tập trung và điều phối các hoạt động của các cá nhân và nhóm trong tổ chức. Ngoài ra, quản trị còn bao gồm việc thiết lập các tiêu chuân, quy trình và thủ tục đê đảm bảo hiệu quả và hiệu suât cao nhât 16 của tổ chức - Theo Harold Koontz va Cyril O’Donnell trong cuốn “Principles of Management: An Analysis of Managerial Functions”. - Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã dé ra — Theo quan điểm của James Stoner và Stephen Robbins trong cuốn “Management”. - Quản trị là một quá trình do một hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác dé đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thé nao đạt được — Theo quan điểm của Jame Donnelly và các cộng sự trong cuốn “Quản trị học căn bản”.
Tại Việt Nam, khái niệm “quản trị” hay “quản lý” cũng được nhiều học giả đưa ra các quan điểm khác nhau. Tiêu biểu như: - Quản tri là tiễn trình hoạch định, tổ chức, bồ trí nhân sự, lãnh dao và kiểm soát những nỗ lực của con người, đồng thời vận dụng một cách có hiệu quả mọi tài nguyên (gồm con người, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, tiền bạc, bí quyết, công nghệ.) để hoàn thành mục tiêu đã định — Quan điểm của tác giả Nguyễn Tan Phước trong cuốn “Quản trị hoc — những van dé cơ bản”.7] - Quản tri là hoạt động làm việc với người khác và thông qua người khác, hoạt động hướng tới mục tiêu nhất định, nguồn lực của tổ chức là có hạn, môi trường tác động đến tô chức luôn thay đổi và phải đạt được mục tiêu với hiệu quả cao — Quan điểm của Trần Đăng Thịnh và các cộng sự trong cuốn “Quản trị học căn bản”. [8, tr12] Nhu vay, ca cac hoc gia trén thé giới va Việt Nam déu cho rang, quan tri là hoạt động có kế hoạch, có tổ chức, sử dụng các nguồn lực hiện có để phục vụ những mục tiêu phát triển 6n định, bền vững và hiệu quả. Tuy nhiên, tại Việt Nam, khái niệm quản trị và quản lý đôi khi bị đánh đồng với nhau bởi 17 chúng đều nói đến công việc của những người lãnh đạo trong việc vận hành một tô chức bất kỳ nào đó.
Quản trị và quản lý nghe qua thì có vẻ là tương đồng, giống nhau thậm chí là có thê thay thế cho nhau nhưng thực tế đây là hai chức năng riêng biệt với nhiều điểm khác biệt và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của một tổ chức, doanh nghiệp hay tập đoàn. Quản trị là toàn bộ quá trình đưa ra các quyết định về chính sách, mục tiêu, quy tắc, hoạt động của đối tượng lãnh đạo cấp cao trong khi quản lý là tiếp nhận và thực hành điều phối để hướng tới các mục tiêu của quản trị. Sự khác nhau giữa quản tri và quản ly được thể hiện tại một số điểm nổi bật sau: về y nghĩa: Quản trị liên quan đến việc hoạch định, các kế hoạch, chính sách hay các mục tiêu vĩ mô, Quản lý là cách đạt được các mục đích đã được xác lập sẵn. Về bản chất: Quản trị đưa ra quyết định, Quản lý thi hành quyết định.
Về chức năng: Chức năng của quản trị là đưa ra quyết định bởi các kế hoạch và chính sách đều được quyết định dựa trên tư duy. Chức năng của quản lý là thi hành quyết định bởi việc hoàn thành công việc của người quản lý đều phải đảm bảo được giám sát nhất định. Về mức độ ảnh hưởng: Các quyết định quản trị chịu ảnh hưởng bởi những quan điểm của cộng đồng, chính phủ hay các tổ chức tôn giáo hoặc các phong tục,. Các quyết định quản lý đưa ra chịu ảnh hưởng bởi các giá trị, tín ngưỡng, quan điềm hay quyết định của những người quản lý khác.
VỀ tình trạng: Quản trị đại diện cho các chủ sở hữu doanh nghiệp - những người thu được lợi nhuận mà họ đã thực hiện đầu tư dựa trên hình thức cô tức. Quản lý chi phối người lao động của tô chức, doanh nghiệp hay tập đoản - những người được trả thù lao theo hình thức lương. 18 Tuy nhiên, vẫn phải nhìn nhận “Quản trị chính là quá trình kết hợp nhiều chủ thể khác nhau và hàm ý một hình thức quản lý mang tính mạng lưới” [4, tr39]. Chủ thé quản trị là những người điều khiển công việc của người khác.
Nhà quản tri là những người tổ chức và thực hiện hoạt động quản trị, là người thực hiện việc đưa ra các kế hoạch, tô chức, chỉ đạo và giám sát việc phân bô nguồn lực con người, tài chính. Từ đó, nhà quản trị giúp tô chức đạt được mục tiêu đề ra. Nhà quản trị là người hoàn thành mục tiêu thông qua những người khác. Nhà quản trị cần hoàn thành nhiệm vụ mà sử dụng ít nguồn lực nhất có thé.
Những nguồn lực mà nhà quản tri có thé sử dụng bao gồm: con người, tài chính, thông tin, cơ sở vật chất. Vị trí của họ ở trong công ty rất đa dạng, tùy vào phạm vi và trách nhiệm phụ trách. Họ là tổng giám đốc điều hành, trưởng phòng, quản đốc. Đối tượng bị quản trị sẽ phải chịu tác động từ chủ thể quản trị.
Tóm lại, Quản trị là sự tác động liên tục có tô chức, có định hướng của chủ thé quan trị lên đối tượng bị quản trị nhằm đạt mục tiêu chung của tô chức đã đề ra trong điều kiện biến động của môi trường và sự thay đôi của các nguồn lực. Quản tri bao gồm 5 thanh tố cơ bản sau: - Chủ thé quan trị và đối tượng bi quan trị. - Có mục tiêu quản trỊ rõ ràng. - Có kết quả và hiệu quả.
- Có nguồn tai nguyên hạn chế. - Môi trường quản trị luôn thay đổi. Công việc quản trị có thể phân thành các nội dung như: - Thành lập các mục tiêu, chính sách quan trọng cho một tổ chức, doanh nghiệp hay tập đoản. 19 - Phối hợp hiệu quả các hoạt động của mọi người trong tô chức bằng cách phối hợp các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu đã được đưa ra.
- Điều hành cả một tập thé, doanh nghiệp của người lãnh dao. Quản trị nội dung truyền thông Truyền thông là quá trình truyền thông tin và sự hiểu biết từ người này sang người khác [29] hay cụ thé hơn, truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau. Truyền thông chính là quá trình trao đồi, tương tác thông tin với nhau về các van dé của đời sống cá nhân, nhóm, xã hội, từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, chuyển đổi thành hành vi của cá nhân hay nhóm xã hội. Trong hoạt động này, phần nội dung truyền thông đóng vai trò lớn trong việc truyền tải va tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau trong một nhóm, giữa các cá nhân và tổ chức.
Nội dung chính là hon cốt cho thông điệp (message) — một trong những yếu tố không thé thiếu trong mô hình truyền thông. Do đó, việc quản trị nội dung truyền thông là điều vô cùng quan trọng. Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết (Học viện quản trị HRD) thì quản trị nội dung là công việc liên quan đến xây dựng nội dung của tờ báo. Ví dụ như thông tin giới thiệu, thông tin liên hệ, nội dung bài viết, hình ảnh, dịch vụ, sản phẩm báo chí truyền thông.
Hay là sửa lỗi bài báo, tối ưu hóa nội dung thông tin,. Giúp độc giả tiếp cận nội dung thông tin và hình thức thé hiện mà sản phẩm báo chí đem đến cho độc giả. - Trích lại lời tác giả Ngô Minh Toàn [26]. Như vậy, quản trị nội dung truyền thông là một chuỗi các hoạt động có chức năng quản trị nhằm mục đích thiết lập, duy trì truyền thông hai chiều đồng thời đi tìm thêm sự hiểu biết và tạo ra sự hợp tác giữa công chúng và một tổ chức bất kỳ.
Quản trị nội dung truyền thông không chỉ là quản trị việc 20 truyền đi thông điệp muốn truyền tải mà nó còn mang sứ mệnh “tạo nghĩa”, tức là người nhận không chỉ nhận thông tin một cách đơn thuần mà còn họ còn nhận được ý đồ mà người làm truyền thông muốn người nhận hiểu được đăng sau nội dung được gửi đi. Nói một cách dễ hiéu, quản trị nội dung truyền thông chính là sự cân nhắc, lựa chọn những nội dung, chủ đề phù hợp để truyền tải đến người tiếp nhận qua các bản tin, bài phân tích, hình ảnh, video,. Quản trị nội dung truyền thông tốt cho thấy khả năng đảm bảo được kế hoạch truyền thông và xây dựng phương tiện truyền thông chất lượng trong ngành truyền thông của doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp có được chiều hướng phát triển đi lên, xây dựng cho mình một chỗ đứng vững chắc trên thị trường lao động và linh hoạt trong các dự án, mang đến những quyên lợi to lớn và hiệu quả.