phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị nhân lực. Chƣơng 2: Thực trạng nhân lực cán bộ Đoàn chuyên trách trên địa bàn thành phố Thanh Hóa. Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực đội ngũ cán bộ Đoàn chuyên trách trên địa bàn thành phố Thanh Hóa. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN LỰC 1.
Khái niệm và vai trò của nhân lực và quản trị nhân lực 1. Khái niệm quản trị nhân lực Nhân lực là một trong các lực quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một cơ quan, đơn vị nào. Vì vậy vấn đề nhân lực luôn đƣợc quan tâm hàng đầu. Có rất nhiều cách phát biểu khác nhau về quản trị nhân lực: Theo giáo sƣ ngƣời Mỹ Dimock “Quản trị nhân lực bao gồm toàn bộ các biện pháp và thủ tục áp dụng cho nhân viên của một tổ chức và giải quyết tất cả các trƣờng hợp xảy ra có liên quan tới một loại công việc nào đó”.
Còn giáo sƣ Felix Migro thì cho rằng: “Quản trị nhân lực là một nghệ thuật chọn lựa nhân viên mới và sử dụng các nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lƣợng công việc của mỗi ngƣời đều đạt mức tối đa có thể”. Vậy quản trị nhân lực đƣợc hiểu là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản trị, giải quyết tất cả các vấn đề liên quan tới con ngƣời gắn với công việc của họ trong bất cứ tổ chức nào. Quản trị nhân lực là một hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật vì quản trị nhân lực là một lĩnh vực gắn bó nhiều đến văn hoá tổ chức và chứa đựng nhiều giá trị nhân văn hơn bất cứ một lĩnh vực quản trị nào khác. Vai trò của quản trị nhân lực Theo PGS.TS Lê Thanh Hà (2009), quản trị nhân lực góp phần vào việc giải quyết các mặt kinh tế xã hội của vấn đề lao động.
Đó là một vấn đề chung của xã hội, mọi hoạt động kinh tế nói chung đều đi đến một mục đích sớm hay muộn là làm sao cho ngƣời lao động hƣởng thành quả do họ làm ra. Trong doanh nghiệp quản trị nhân lực thuộc chức năng chính của nhà quản trị, giúp nhà quản trị đạt đƣợc mục đích thông qua nỗ lực của ngƣời khác. Các nhà quản trị có vai trò đề ra các chính sách, đƣờng lối, chủ trƣơng có tính chất định hƣớng cho lực phát triển của doanh nghiệp do đó nhà quản trị phải là 5 ngƣời biết nhìn xa trông rộng, có trình độ chuyên môn cao. Ngƣời thực hiện các đƣờng lối chính sách mà nhà quản trị đề ra là các nhân viên thừa hành, kết quả công việc hoàn thành tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của nhân viên, vì vậy cho nên có thể nói rằng: “mọi quản trị suy cho cùng cũng là quản trị con ngƣời”.TS Nguyễn Tiệp (2011), quản trị nhân lực gắn liền với mọi tổ chức, bất kỳ một cơ quan tổ chức nào cũng cần phải có bộ phận nhân lực.
Quản trị nhân lực là một thành tố quan trọng của chức năng quản trị, nó có gốc rễ và các nhánh trải rộng khắp nơi trong mọi tổ chức. Quản trị nhân lực hiện diện ở khắp các phòng ban, bất cứ cấp quản trị nào cũng có nhân viên dƣới quyền vì thế đều phải có quản trị nhân lực. Cung cách quản trị nhân lực tạo ra bầu không khí văn hoá cho một doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những yếu tố quyết định đến lực thành bại của một doanh nghiệp.
Quản trị nhân lực có vai trò to lớn đối với hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, nó là hoạt động bề sâu chìm bên trong doanh nghiệp nhƣng lại quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Yếu tố giúp nhà quản trị nhận biết đƣợc một cơ quan, đơn vị hoạt động tốt hay không hoạt động tốt, thành công hay không thành công chính là lực lƣợng nhân lực - những con ngƣời cụ thể với lòng nhiệt tình và óc sáng kiến. Mọi thứ còn lại nhƣ: máy móc thiết bị, của cải vật chất, công nghệ kỹ thuật đều có thể mua đƣợc, học hỏi đƣợc, sao chép đƣợc, nhƣng con ngƣời thì không thể. Vì vậy có thể khẳng định rằng quản trị nhân lực có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển cơ quan, đơn vị.
Các nội dung của quản trị nhân lực Theo tác giả Trần Kim Dung. (2012), hoạt động quản trị nhân lực liên quan đến tất cả các vấn đề thuộc quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhân viên nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao trong quá trình hƣớng đến viễn cảnh của tổ chức. Trong thực tế những hoạt động này rất đa dạng, phong phú và khác biệt, tùy theo đặc điểm về cơ cấu tổ chức, công nghệ kỹ thuật, lực tài chính ở các tổ chức. Tuy 6 nhiên, các hoạt động của QTNL có thể đƣợc phân chia theo ba nhóm chức năng chủ yếu nhƣ sau: (1) Thu hút (hình thành) nhân lực; (2) Đào tạo và phát triển nhân lực; (3) Duy trì nhân lực [9].
Về cơ bản công tác quản trị nhân lực sẽ thực hiện nội dung theo ba nhóm chức năng trên để đạt đƣợc mục tiêu là: i) Sử dụng hiệu quả nhân lực nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả của tổ chức. ii) Đáp ứng nhu cầu của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên đƣợc phát huy tối đa các năng lực cá nhân, đƣợc kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tụy với doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa các chức năng với mục tiêu của quản trị nhân lực đƣợc thể hiện ở hình 1.1 nhƣ sau: Hình 1.1: Mô hình các chức năng của quản trị nhân lực Nguồn: Trần Kim Dung (2012) Nhƣ vậy, mô hình quản trị nhân lực sẽ có ba nhóm chức năng thành phần: Thu hút - Đào tạo phát triển - Duy trì nhân lực. Từ mục tiêu của quản trị nhân lực sẽ có các chính sách, thủ tục, hoạt động tƣơng ứng về tuyển dụng đào tạo - phát triển và duy trì nhân lực.
Mô hình này nhấn mạnh rằng: Mỗi một trong ba nhóm chức năng của nhân lực đều có quan hệ chặt chẽ và trực tiếp ảnh hƣởng đến hai chức năng còn lại, tác động ảnh hƣởng đến nhau giữa các hoạt động trong mô hình QTNL nhằm đạt đƣợc sứ mạng mục tiêu quản trị nhân lực của doanh nghiệp. Sau đây là nội dung cơ bản của các nhóm chức năng của quản trị nhân lực. Nội dung chức năng thu hút nhân lực Theo tác giả Nguyễn Hữu Thân. (2008), chức năng thu hút nhân lực gồm các hoạt động mà tổ chức phải tiến hành: kế hoạch hóa nhân lực (hay là hoạch định nhân lực); phân tích thiết kế công việc; biên chế nhân lực; tuyển mộ, tuyển dụng, bố trí sắp xếp nhân lực.
Sau đây sẽ phân tích trong phạm vi công việc chính là hoạch định nhân lực, phân tích thiết kế công việc, tuyển dụng nhân viên và bố trí sắp xếp nhân lực. Hoạch định nhân lực Cũng theo Theo tác giả Nguyễn Hữu Thân. (2008), hoạch định nghĩa là tiên liệu, tiên đoán, hay dự báo những thay đổi hay biến thiên, cũng nhƣ phòng ngừa các rủi ro trong tƣơng lai. Hoạch định nhân lực là một tiến trình triển khai thực hiện các kế hoạch, các công việc dự kiến thực hiện và các chƣơng trình nhằm bảo đảm rằng doanh nghiệp sẽ có đúng số lƣợng, đúng số ngƣời đƣợc bố trí đúng nơi, đúng lúc, và đúng chỗ.
Hay nói cách khác, hoạch định nhân lực là một tiến trình duyệt xét lại một cách có hệ thống những yêu cầu về tài nguyên nhân lực đề đảm bảo rằng doanh nghiệp sẽ có đúng số ngƣời có đầy đủ các kỹ năng theo đúng nhu cầu. Sau khi đã đề ra các mục tiêu, doanh nghiệp sẽ đề ra các chiến lƣợc và kế hoạch chi phối toàn bộ các hoạt động của DN. Dựa vào mục tiêu và chiến lƣợc này, nhà quản trị sẽ hoạch định nhân lực. Việc hoạch định này có hai thành tố: nhu cầu và khả năng sẵn có.
Điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải dự báo. Quy trình hoạch định nhân lực thƣờng đƣợc tiến hành theo các bƣớc: 8 Bảng 1. Các bƣớc hoạch định nhân lực STT Các bƣớc Nội dung Xác định mục tiêu doanh nghiệp cần đạt là gì, kế hoạch Dự báo nhu cầu hoạt động và phạm vi SXKD ra sao. Trên cơ sở đó, xác 1 nhân lực định nhu cầu nhân lực cho doanh nghiệp: cần bao nhiêu ngƣời, trình độ chuyên môn, kỹ năng, phẩm chất… Phân tích ƣu, nhƣợc điểm của nhân lực hiện có.
Xét về phía nhân viên, phải đánh giá đƣợc cơ cấu, trình độ, kỹ Phân tích thực năng, kinh nghiệm, thái độ làm việc, trách nhiệm và 2 trạng nhân lực quyền hạn của họ. Xét về phía doanh nghiệp, phải xem xét chính sách quản lý nhân lực, mục tiêu, kế hoạch hoạt động, môi trƣờng làm việc… So sánh dự báo nhu cầu nhân lực trong tƣơng lai với Quyết định tăng thực trạng nhân lực hiện có. Từ đó xác định nhân lực 3 hay giảm nhân của doanh nghiệp thừa hay thiếu để đƣa ra các giải lực pháp tăng hoặc giảm nhân lực. Lập bản kế hoạch thực hiện rõ ràng, phù hợp với doanh Lập kế hoạch nghiệp.
Xác định các vấn đề: tuyển dụng, sắp xếp lại 4 thực hiện nhân lực các phòng ban nhƣ thế nào hay đào tạo nhân viên ra sao Xem xét quá trình thực hiện có gì sai lệch với mục tiêu Đánh giá thực 5 đề ra hay không, có nảy sinh vấn đề gì mới hay không. hiện kế hoạch Từ đó, tìm nguyên nhân và đƣa ra cách giải quyết. Trích: Nguyễn Hữu Thân (2008) Tóm lại, hoạch định nhân lực đƣợc định nghĩa nhƣ là một quy trình ƣớc đoán nhu cầu nhân lực của tổ chức trong mối quan hệ với những mục tiêu của tổ chức cùng lực thay đổi từ môi trƣờng, và việc lập kế hoạch phải bảo đảm một lực lƣợng lao động ổn định, có đủ năng lực. Bản mô tả công việc: là một tài liệu cung cấp thông tin liên quan đến các 9 công tác cụ thể, các nhiệm vụ và trách nhiệm của công việc.
Bản mô tả công việc liệt kê chính xác và súc tích những điều mà công nhân viên phải thực hiện. Nó cho ta biết công nhân viên làm cái gì, làm thế nào, và các điều kiện mà các nhiệm vụ đó đƣợc thực thi.