Chương 1 LÝ LUẬN VỀ DÒNG TIỀN VÀ QUẢN TRỊ DÒNG TIỀN TRONG DOANH NGHIỆP 1. DOANH NGHIỆP VÀ DÒNG TIỀN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Doanh nghiệp và hoạt động tài chính của doanh nghiệp 1. Doanh nghiệp Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa về doanh nghiệp, tuỳ theo góc độ tiếp cận.
Chẳng hạn như: Xét theo quan điểm phát triển thì “Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được” (Kinh tế doanh nghiệp của D.A Caillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992). Dưới góc độ pháp lý: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh” (Luật doanh nghiệp 2020 của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Nhìn doanh nghiệp theo góc độ quản lý kinh tế: “Doanh nghiệp là các đơn vị kinh tế cơ sở có chức năng sản xuất - kinh doanh hàng hoá, dịch vụ một cách hợp pháp, theo nhu cầu của thị trường, nhằm đạt lợi nhuận hoặc hiệu quả kinh tế - xã hội tối đa” (Giáo trình Quản lý kinh tế - Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, - Hà Nội 2007).
Xét theo góc độ kinh tế - tài chính: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hoá và dịch vụ cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời” (Bùi Văn Vần, Vũ Văn Ninh, 2013). Doanh nghiệp được tổ chức theo những hình thức cụ thể. Ở mỗi nước có thể có nét riêng, song nhìn chung được tổ chức với hình thức cụ thể là công ty; hợp tác xã; doanh nghiệp cá nhân (doanh nghiệp tư nhân)… - Công ty là tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng giá trị về vốn và tài sản của công ty. Công ty có nhiều loại hình tổ chức cụ thể.
Thông thường, có 02 loại hình công ty chủ yếu là công ty cổ phần; công ty trách nhiệm hữu hạn; ngoài ra còn có công ty hợp danh, công ty dự phần… + Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó: Vốn Điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông là người có cổ phần, số lượng cổ đông tối thiểu 18 là ba và không hạn chế tối đa; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu…) để huy động vốn kinh doanh. + Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) gồm có công ty TNHH 1 thành viên và công ty TNHH 2 thành viên trở lên; trong đó: Công ty TNHH 1 thành viên chỉ có một tổ chức hoặc 1 cá nhân làm chủ sở hữu (đối với công ty TNHH từ hai thành viên trở lên có số thành viên không vượt quá 50); thành viên chịu trách nhiệm các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp; công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; phần vốn góp của thành viên được phép chuyển nhượng cho thành viên khác theo quy định của pháp luật; công ty không có quyền phân định cổ phần và phát hành cổ phiếu. - Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tự chủ của người lao động có nhu cầu và lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn đầu tư, góp sức lập ra theo qui định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên, nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi xã viên. - Doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp cá nhân) là do một cá nhân duy nhất đầu tư thành lập và trực tiếp quản lý, chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ các cách hiểu được diễn đạt trên đây cho thấy một số vấn đề cơ bản là: - Chủ thể kinh tế - xã hội bỏ vốn vào hoạt động kinh doanh lập lên chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp và họ là chủ sở hữu doanh nghiệp. - Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động kinh doanh theo pháp luật của nhà nước. Mỗi một loại hình doanh nghiệp, mỗi hình thức cụ thể của doanh nghiệp đều được kết cấu theo quy định của pháp luật. Pháp luật ở mỗi quốc gia có khác nhau; trong một quốc gia giữa các thời kỳ khác nhau cũng có thể quy định về cơ cấu tổ chức quản lý đối với doanh nghiệp khác nhau.
- Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, khi tham gia vào các quan hệ pháp luật là chủ thể độc lập. Khi đó doanh nghiệp có quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định; pháp nhân quan hệ với pháp luật được quy định là thông qua người đại diện theo pháp 19 luật. Nhìn chung theo pháp luật của các nước hiện nay, cổ đông hay thành viên, những người góp vốn thành lập doanh nghiệp là chủ sở hữu doanh nghiệp; các doanh nghiệp trong nền kinh tế đều là chủ thể kinh tế độc lập trong quan hệ với pháp luật, độc lập với chủ sở hữu về tài sản và việc tiến hành quan hệ thông qua người đại diện. Hoạt động tài chính của doanh nghiệp Ttài chính có thể hiểu một cách khái quát là sự vận động của vốn giữa các chủ thể trong xã hội và các mối quan hệ kinh tế nảy sinh giữa các chủ thể trong quá trình vận động đó.
Các hoạt động gắn liền với sự vận động của vốn giữa các chủ thể được gọi là hoạt động tài chính. Như vậy hoạt động tài chính là các hoạt động gắn liền với sự dịch chuyển, vận động của vốn trong đó vốn có thể tồn tại dưới dạng tiền hoặc tài sản vật chất, phi vật chất. Các hoạt động tài chính trong doanh nghiệp tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con bao gồm hoạt động tạo lập nguồn vốn và hoạt động sử dụng vốn và phân phối lợi nhuận sau thuế. Trong các DN, hoạt động tạo lập nguồn vốn bao gồm các hoạt động khai thác và huy động từ các kênh huy động vốn khác nhau để hình thành vốn kinh doanh của công ty: phát hành cổ phiếu, phát hành trái phiếu, vay ngân hàng, thuê tài chính….
Hoạt động sử dụng vốn của DN bao gồm: hoạt động sử dụng vốn tại doanh nghiệp và hoạt động đầu tư vốn ra bên ngoài. Hoạt động sử dụng vốn tại DN là hoạt động đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản cố định, tài sản lưu động và các yếu tố khác để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Hoạt động sử dụng vốn đầu tư ra bên ngoài của DN gồm: đầu tư vốn vào các công ty khác, góp vốn liên doanh liên kết với các công ty khác, mua một phần hoặc toàn bộ công ty khác, đầu tư thành lập một doanh nghiệp mới, mua bán lại các doanh nghiệp; kinh doanh vốn trên thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán… Hoạt động phân phối lợi nhuận sau thuế. Nếu hoạt động kinh doanh của công ty có hiệu quả, công ty sẽ tiến hành phân phối lợi nhuận sau thuế.
Lợi nhuận sau thuế có thể được phân chia thành hai bộ phận, một bộ phận lợi nhuận giữ lại để tiếp tục tái đầu tư, một bộ phận phân chia cho các cổ đông, gọi là cổ tức. Việc phân chia lợi nhuận sau thuế được thực hiện theo Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần. Tuy nhiên việc phân chia lợi nhuận sau thuế cần đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động, chủ sở hữu và bản thân doanh nghiệp. Dòng tiền của doanh nghiệp 1.
Khái niệm và nội dung dòng tiền của doanh nghiệp Dòng tiền có một vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của doanh nghiệp. Chẳng hạn, để đưa ra quyết định đầu tư hay để ước lượng giá trị của khoản đầu tư, doanh nghiệp cần phải ước lượng dòng tiền trong tương lai do các khoản đầu tư mang lại. Dòng tiền còn được đề cập đến như là liều thuốc cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần tiền để thanh toán cho những hóa đơn và thanh toán các khoản nợ tới hạn.
Khi đề cập đến khái niệm của dòng tiền, trước hết ta cần hiểu khái niệm thông qua dòng tiền vào, dòng tiền ra và dòng tiền thuần. Tiền mặt có thể đến từ các nguồn: Bán tài sản, đi vay, chuyển đổi tài sản thành tiền, tái đầu tư từ lợi nhuận. Dòng tiền ra bao gồm các khoản doanh nghiệp chi ra trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Dòng tiền thuần được xác định bằng tổng số tiền vào trong kỳ trừ đi số tiền bỏ ra trong kỳ tương ứng.
Qui trình vận động của tiền bắt đầu từ việc chuyển tiền vào, sản xuất sản phẩm dịch vụ cho khách hàng, bán và phân phối các sản phẩm hoặc dịch vụ xuất hiện các hóa đơn thu tiền. Nếu một doanh nghiệp thành công, tiền mặt ở thời điểm cuối sẽ vượt quá tiền mặt lúc ban đầu với một lượng nhiều hơn số cần thiết để bù đắp giá trị thời gian của tiền rút ra. Doanh nghiệp không thể tồn tại với việc bán hàng cho những khách hàng không trả tiền hoặc bán sản phẩm với số tiền thấp hơn chi phí tạo ra nó. Mục tiêu của doanh nghiệp là nhanh chóng đẩy mạnh quá trình chuyển đổi thành tiền nhiều nhất có thể.
Trên góc độ tài chính doanh nghiệp, dòng tiền khác với chỉ tiêu lợi nhuận kế toán trong kỳ. Lợi nhuận phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ và được phản ánh dựa theo phương pháp kế toán dồn tích. Lợi nhuận là chênh lệch của doanh thu trừ chi phí. Doanh thu của doanh nghiệp được ghi nhận khi doanh nghiệp chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng và được khách hàng chấp nhận thanh toán bất kể là đã thu được tiền hay không.
Chi phí của doanh nghiệp cũng được ghi nhận khi phát sinh bất kể chi phí có bằng tiền hay không.