Mở đầu với việc thí điểm thành lập Trung tâm Đại học Dân lập Thăng Long thuộc loại hình đại học dân lập vào năm 1988. Từ năm 1986 đến nay, qua Nghị quyết số 04-HNTW năm 1993, Đảng tiếp tục nhấn mạnh tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, mở rộng các mô hình giáo dục đại học. TTCP ban hành Quyết định số 240-TTg ngày 24/5/1993 về quy chế đại học tư thục, Quốc hội đưa loại hình trường đại học ngoài công lập vào Luật Giáo dục 2005, rồi tách riêng thành Luật Giáo dục đại học 2012. Trên cơ sở đó, tính đến hết năm 2017, hệ thống giáo dục hiện có 238 trường đại học, bao gồm 172 trường công lập, 61 trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn nước ngoài.
Khái quát về mô hình quản trị công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam và các nước Hình thức công ty cổ phần ra đời là một tất yếu của nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu của các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong việc huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau để mở rộng quy mô kinh doanh. Ở Việt Nam, việc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã mở ra cơ hội cho các tổ chức, cá nhân phát huy khả năng sản xuất kinh doanh; từ đó, hình thức công ty cổ phần ngày càng phổ biến và chứng minh được vai trò tích cực của nó trong nền kinh tế. Pháp luật Việt Nam hiện hành đã có nhiều chế định liên quan đến quản trị công ty cổ phần, tạo cơ sở pháp lý chung để những nhà quản trị áp dụng vào thực tiễn công ty mình, nhằm làm cho bộ máy công ty cổ phần vận hành có hiệu quả. Khái niệm công ty cổ phần Khái niệm về công ty cổ phần theo pháp luật các nước dù không hoàn toàn giống nhau, nhưng đều thống nhất quan điểm công ty cổ phần là loại hình công ty đặc trưng của công ty đối vốn với đặc điểm quan trọng là có sự tách bạch tài sản của công ty và của các cổ đông, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình, vốn cơ bản của công ty được chia thành các cổ phần, trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần được phát hành các loại chứng khoán ra thị trường để huy động vốn.
Về bản chất, pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước trên thế giới tương đối tương đồng khi quy định về khái niệm công ty cổ phần. Điều 110 LDN 2014 quy định “công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân… chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp…”. Như vậy, tương tự như phiên bản trước đây, LDN 2014 cũng không đưa ra một định nghĩa khái quát về công ty cổ phần, mà chỉ liệt kê những dấu hiệu pháp lý để nhận diện công ty cổ phần, giúp phân biệt loại hình công ty cổ phần với các loại hình doanh nghiệp khác. Khái niệm quản trị công ty cổ phần Quản trị công ty, cũng như quản trị công ty cổ phần, có nhiều cách hiểu khác nhau.
Theo Ngân hàng thế giới, quản trị công ty là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty, cho phép công ty có thể thu hút được tài chính và nhân lực để hoạt động có hiệu quả, và nhờ đó mà có thể tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của các bên có lợi ích liên quan và xã hội. Những đặc điểm cơ bản nhất của quản trị công ty là [18]: Tính minh bạch của các thông tin và giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý; bảo đảm thực thi các quyền của tất cả các cổ đông; và các thành viên trong hội đồng quản trị có thể hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn. Ngoài ra, có quan điểm cho rằng quản trị công ty có thể hiểu theo hai nghĩa. Quản trị công ty theo nghĩa hẹp được hiểu là cơ chế quản lý – giám sát của chủ sở hữu với người quản lý công ty theo những mục tiêu và định hướng của chủ sở hữu.
Quản trị công ty theo nghĩa rộng gắn chặt với quyền lợi của chủ sở hữu cũng như các chủ nợ, nhà cung cấp, người lao động, và khách hàng của công ty. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD), quản trị công ty là một hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lý, xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa cổ đông, hội đồng quản trị, các chức danh quản lý và những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh. Như vậy, khái niệm quản trị công ty cổ phần dưới góc độ luật học có thể hiểu là hệ thống các thiết chế để tổ chức quản lý công ty cổ phần được thực hiện trên cơ sở phân định rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các chủ sở hữu, người quản lý, những người có lợi ích liên quan, cũng như các nguyên tắc áp dụng theo một trình tự thủ tục nhằm đảm bảo tổ chức và hoạt động công ty một cách hiệu quả nhất. Các mô hình quản trị công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam Về mô hình quản trị công ty cổ phần, Luật doanh nghiệp 2005 và 2014 quy định công ty cổ phần có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc 14 n Tổng giám đốc; đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát.
Như vậy, cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần được thiết kế theo một trong hai mô hình có hoặc không có ban kiểm soát. Đối với mô hình có ban kiểm soát, việc tổ chức quản lý công ty có sự phân công, phân nhiệm và chế ngự lẫn nhau giữa các cơ quan quản lý, điều hành và kiểm soát. Đây là mô hình truyền thống và điển hình của các công ty cổ phần, là bộ máy tổ chức quản lý phù hợp và hiệu quả trong trường hợp công ty cổ phần có sự tham gia đông đảo của các cổ đông khác nhau. Ngược lại, đối với những công ty cổ phần có ít cổ đông thì mô hình có ban kiểm soát có thể sẽ gây cồng kềnh bộ máy.
Tuy nhiên, Hội đồng quản trị trong mô hình này ngoài thành viên điều hành còn có thành viên độc lập và Ban kiểm toán nội bộ, với ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập. Các thành viên độc lập sẽ thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty như chức năng của Ban kiểm soát. Mô hình quản trị công ty cổ phần có hoặc không có ban kiểm soát theo Luật doanh nghiệp 2005 và 2014 1. Các mô hình quản trị công ty cổ phần theo pháp luật một số nước Để phân loại các mô hình quản trị công ty trên thế giới, các nhà nghiên cứu thường dựa vào mục đích quản trị công ty hoặc theo cấu trúc quản trị nội bộ của công ty theo luật định.
Khi đó, trên thế giới hiện nay tồn tại chủ yếu hai mô hình cấu trúc quản trị nội bộ công ty cổ phần cơ bản là cấu trúc hội đồng kép hay còn gọi 15 n là hội đồng hai tầng, đa hội đồng và mô hình hội đồng đơn hay còn gọi là hội đồng một tầng. Để thấy rõ các đặc trưng của từng loại mô hình quản trị công ty cổ phần [16, tr.20-39], có thể so sánh một số mô hình quản trị công ty cổ phần trên thế giới như sau: 1. Mô hình quản trị CTCP điển hình cho cấu trúc một tầng ở Anh Về mặt nguyên tắc hoạt động, mô hình quản trị công ty cổ phần của Anh là điển hình cho mô hình quản trị kiểu Anh, Mỹ có nền tảng là sự tách biệt giữa quản lý với sở hữu vốn trong công ty cổ phần. Cấu trúc quản trị nội bộ của một công ty cổ phần gồm có đại hội đồng cổ đông và hội đồng giám đốc.
Đại hội đồng cổ đông sẽ bầu chọn các thành viên của hội đồng giám đốc, với số lượng thông thường từ 20 đến 30 thành viên với rất nhiều quyền lực. Mô hình này cũng không có một cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ giám sát như ban kiểm soát trong luật công ty Việt Nam, Nhật Bản, Đức. Mô hình quản trị CTCP điển hình cho cấu trúc hai tầng ở Đức Cấu trúc hội đồng kép theo luật công ty Đức có hai đặc điểm quan trọng nhất: (i) cấu trúc quản trị - điều hành có hai hội đồng theo thứ bậc, và (ii) có thể có sự tham gia nhất định của đại diện người lao động vào hội đồng phía trên. Cụ thể gồm có đại hội đồng cổ đông, hội đồng giám sát, và hội đồng quản trị.
Việc điều hành công ty cổ phần được phân chia cho hai cơ quan là hội đồng giám sát và hội đồng quản trị, như một thiết chế hai tầng mà hội đồng giám sát nằm ở tầng trên. Điểm đặc trưng là dù đại hội đồng cổ đông sẽ bầu chọn thành viên của hội đồng giám sát, nhưng người lao động cũng có quyền lựa chọn thành viên của hội đồng giám sát theo đạo luật về sự tham gia của người lao động vào quản trị công ty, với tỷ lệ số thành viên do người lao động bầu chọn sẽ phụ thuộc vào số lao động của công ty. Như vậy, hội đồng giám sát trong cấu trúc hội đồng hai tầng theo luật Đức không giống với ban kiểm soát trong các công ty cổ phần ở Việt Nam; và hội đồng giám sát trong cấu trúc hội đồng hai tầng theo luật Đức cũng không giống với hội đồng quản trị trong các công ty cổ phần ở Việt Nam. Nhưng thẩm quyền tham 16 n gia của người lao động vào bộ máy quản trị của công ty là một đặc điểm đáng lưu ý để áp dụng vào quản trị đại học.
Mô hình quản trị CTCP điển hình cho cấu trúc hỗn hợp ở Nhật Bản Mô hình quản trị CTCP của Nhật Bản tuân theo mô hình không hoàn toàn là mô hình hội đồng đơn hoặc kép [11].