Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG 1. Khái quát về quản trị công ty 1. Khái niệm về quản trị công ty Thuật ngữ “corporate governance” khi dịch sang tiếng Việt còn nhiều tranh cãi. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương dịch là “quản trị công ty”, và cách dịch này cũng được sử dụng chính thống trong các văn bản pháp luật liên quan, nhất là Thông tư 121/2012/TT-BTC.
Tuy nhiên, có nhiều tác giả không đồng ý với cách dịch này, họ cho rằng cách dịch này gây nhầm lẫn và họ dịch thuật ngữ này sang tiếng Việt gọi là “chỉ đạo công ty”, và cũng có tác giả dịch là “cai quản công ty” [3, tr. Tác giả Luận văn đồng ý với cách dịch là “chỉ đạo công ty” để tránh nhầm lẫn. Nhưng do được dùng một cách chính thống trong các văn bản pháp luật, trong các bản dịch của OECD, của IFC, nên trong Luận văn này sử dụng cách dịch thuật ngữ “corporate governce” là “Quản trị công ty”. Mặc dù còn nhiều tranh cãi về cách dịch, nhưng thuật ngữ “corporate governce” được hiểu với nội dung sau: Việc tiến hành kinh doanh theo đúng những yêu cầu của chủ sở hữu hoặc những cổ đông của công ty; yêu cầu đó thường là làm sao để làm ra được nhiều tiền nhất, nhưng không trái với các nguyên tắc cơ bản của xã hội được quy định trong các luật và tập quán địa phương.
Một hệ thống theo đó các công ty kinh doanh được định hướng và kiểm soát. Cơ cấu quản trị công ty định rõ sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm đối với những thành viên khác nhau trong 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công ty như thành viên HĐQT, những người quản lý, cổ đông và các bên liên quan khác, giải thích rõ các quy tắc và thủ tục ra quyết định về các vấn đề của công ty. Bằng cách đó, quản trị công ty sẽ tạo ra cơ cấu và công cụ để đạt được những mục tiên đó [3, tr. QTCT là một hệ thống, thông qua đó công ty được định hướng, điều hành và kiểm soát nhằm đáp ứng quyền lợi của nhà đầu tư, người lao động và những người điều hành công ty.
Governance có gốc từ tiếng Hy Lạp, nghĩa là lèo lái. Người ta hình dung corporate – công ty như một con tàu cần phải được lèo lái để đến bến thành công với thuyền trưởng và đoàn thuỷ thủ là những người điều hành và người lao động. Công ty là của chủ sở hữu (nhà đầu tư, cổ đông…), nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của HĐQT, sự điều hành của BGĐ và sự đóng góp của người lao động, mà những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi. Rõ ràng, cần phải có một cơ chế để điều hành và kiểm soát để nhà đầu tư, cổ đông có thể kiểm soát việc điều hành công ty nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.
QTCT đề ra cách phân chia quyền hạn và nghĩa vụ giữa các nhóm lợi ích trong một công ty bao gồm cổ đông, HĐQT, BGĐ và các bên có lợi ích liên quan như người lao động, nhà cung cấp (đặc biệt là nhà cung cấp tài chính). Mục đích chính của QTCT cần được xác định là để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và đảm bảo hài hoà giữa các nhóm lợi ích trong công ty. Các quy định của QTCT chủ yếu liên quan đến HĐQT, các thành viên HĐQT và BGĐ, chứ không liên quan đến việc điều hành công việc hàng ngày của công ty. QTCT tốt sẽ có tác dụng làm cho các quyết định và hành động của BGĐ thể hiện đúng ý chí và đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư, cổ đông và những người có lợi ích liên quan.
Nhìn vào hoạt động của công ty, có thể thấy có một số giao dịch giữa 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công ty và một số đối tượng nhất định có thể gây thiệt hại cho công ty và cổ đông, vì vậy QTCT đặc biệt nhằm vào điều chỉnh các giao dịch: Khi công ty cho những người có liên quan (thành viên HĐQT, BGĐ, cổ đông lớn…) vay mượn; công ty vay mượn của những người có liên quan; công ty đứng ra bảo lãnh cho những người có liên quan; công ty bán tài sản cho những người có liên quan; công ty mua tài sản từ cổ đông; công ty ký hợp đồng với các bên có liên quan; công ty bán cổ phần cho cổ đông với giá thấp hơn giá thị trường; công ty mua lại cổ phần từ cổ đông với giá cao hơn giá thị trường; khi có gian lận trong chuyển nhượng tài sản của công ty; khi những người quản lý công ty nhận tiền hoa hồng. Những vấn đề như cung cấp thông tin về tình trạng chung và tình trạng tài chính của công ty, vấn đề thủ tục đưa ra các quyết định quan trọng trong công ty cũng cần được điều chỉnh một cách rõ ràng trong khuôn khổ của QTCT. Tóm lại, QTCT là một cơ chế mà trong đó nhà đầu tư mong muốn công ty sẽ bảo đảm cho họ thu hồi vốn đầu tư và lấy được lời lãi, những quản trị viên không ăn cắp tiền của họ hay đầu tư vào những dự án mà có nguy cơ rủi ro rất cao. Phân biệt quản trị công ty với quản lý công ty Cần phân biệt rõ ràng QTCT với quản lý công ty.
Đây là hai khái niệm khác nhau nhưng có thể dễ gây nhầm lẫn. Quản lý công ty liên quan đến các công cụ để điều hành công ty theo những chiến lược, hoặc định hướng sẵn của công ty đã đề ra. QTCT ở tầm cao hơn, liên quan đến các các cơ cấu và các quy trình của công ty nhằm kiểm soát và định hướng công ty để đảm bảo quyền lợi cho các cổ đông, các nhà đầu tư vốn vào công ty [34]. Quản lý công ty liên quan đến toàn bộ quá trình ra quyết định của công ty sao cho công ty đi đúng hướng với những chiến lược định sẵn.
Quản lý công ty tập trung vào các công cụ cần thiết để điều hành doanh nghiệp. Quản 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lý công ty là hệ quả của quản trị công ty. Bản thân công ty là chiếc xe (có thể là xe khách, xe tải.) còn ban quản lý thì giống như tài xế, phụ xe,chủ xe… Khi nói đến quản lý công ty là nói về các trung tâm hay cơ cấu quyền lực ở đó. Việc ấn định quyền hành là do người sáng lập công ty quyết định.
Dựa trên luật, người ấy muốn mình đứng ở đâu trong các bộ phận để có và phải có những quyền nào nhằm điều khiển công ty theo ý mình, hay để ít bị cản trở nhất[3, tr281]. Quản trị công ty liên quan tới cơ chế kiểm soát quá trình ra quyết định của công ty. Đó là cơ chế đảm bảo những người quản lý công ty trung thành với lợi ích của cổ đông, với chủ sở hữu công ty, cẩn trọng với tất cả các quyết định của mình, trung thực với các cổ đông của mình. Hay nói cách khác, quản trị công ty là các quy trình nhằm đảm bảo sự công bằng, tính minh bạch, tính trách nhiệm và tính giải trình.
Quản trị công ty được đặt ở một tầm cao hơn đảm bảo rằng công ty sẽ được quản lý theo một cách sao cho nó phục vụ lợi ích của các cổ đông. Các nguyên tắc quản trị công ty Năm 1999, OECD lần đầu tiên xuất bản những nguyên tắc về QTCT với mục đích hỗ trợ các chính phủ trong việc “cải thiện khuôn khổ pháp lý, thể chế và quy định cho nền tảng QTCT”. Những nguyên tắc này không có tính ràng buộc mà chỉ cung cấp các định hướng và tinh thần cho việc xây dựng một hệ thống QTCT tốt. Đây là bộ nguyên tắc quốc tế đầu tiên về QTCT được chính phủ các nước chấp nhận và thông qua một cách rộng rãi.
Năm 2002, OECD đã tiến hành xem xét, rà soát bộ nguyên tắc năm 1999 và ban hành bộ nguyên tắc mới cập nhật, bổ sung bao gồm các lĩnh vực sau: Bảo đảm cơ sở cho một khuôn khổ QTCT hiệu quả; Quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu chính; Đối xử bình đẳng đối với cổ đông; Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong QTCT; Công bố thông tin 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và tính minh bạch; Trách nhiệm của HĐQT. Nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã sử dụng những nguyên tắc này như là một tiêu chuẩn cho việc thiết lập khuôn khổ QTCT. * Quyền của cổ đông Theo OECD, các nguyên tắc bao quát về quyền của cổ đông là “Khuôn khổ QTCT phải bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện các quyền của cổ đông”. Chủ trương của nguyên tắc này bao gồm tất cả những vấn đề nhằm chấp thuận các quyền lợi cơ bản của cổ đông bao gồm quyền ảnh hưởng đến công ty, quyền được cập nhật thông tin, quyền được bán hoặc chuyển nhượng cổ phần và quyền tham gia vào lợi nhuận hoặc thu nhập của công ty (quyền kinh tế).
Quyền của cổ đông tập trung vào các quyền cơ bản như đề cử, bầu cử, bãi miễn thành viên HĐQT, sửa đổi quy định, điều lệ công ty. và tuỳ các loại cổ phần khác nhau sẽ có các quyền khác nhau. * Đối xử bình đẳng đối với cổ đông “Khuôn khổ QTCT cần đảm bảo có sự đối xử bình đẳng đối với mọi cổ đông, trong đó có cổ đông thiểu số và cổ đông nước ngoài. Mọi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại hiệu quả khi quyền của họ bị vi phạm”.
Chủ trương của nguyên tắc này là để bảo vệ sự toàn vẹn của thị trường vốn bằng cách bảo vệ các cổ đông không có quyền kiểm soát, tránh khỏi sự lạm dụng, chẳng hạn các khoản chi tiêu hoang phí do HĐQT, BGĐ và các cổ đông nắm quyền kiểm soát quyết định. Các nhà đầu tư tin rằng lợi ích của họ nếu không bị lạm dụng sẽ làm giảm rủi ro đầu tư, hạ thấp chi phí vốn và qua đó làm tăng giá trị tài sản. * Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong QTCT Khuôn khổ QTCT cần công nhận quyền của các bên có quyền lợi liên quan đã được pháp luật quy định hoặc theo các thỏa thuận song phương, khuyến 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khích công ty tích cực hợp tác trong việc tạo dựng tài sản, việc làm và ổn định tài chính cho công ty.