Chương 1 của Luận văn cũng giới thiệu sơ bộ về nhu cầu cần thiết phải tiếp thu những nguyên tắc quản trị công ty, cũng như giới thiệu về bộ Nguyên tắc quản trị công ty của OECD, như một nguồn tham khảo quan trọng đối với việc xây dựng hệ thống quản trị công ty. Chương 2 người viết tập trung phân tích những ảnh hưởng của các nguyên tắc quản trị công ty của OECD trong pháp luật về quản trị công ty của Việt Nam, giới hạn trong việc quản trị công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp. Những quy định pháp luật Việt Nam sẽ được phân tích dựa trên việc so sánh với từng nguyên tắc của OECD, đồng thời có sự đối chiếu và phân tích sự thay đổi, phát triển từ những quy định về quản trị công ty đã có trước khi Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời, để thấy rõ sự phát triển từng bước và ảnh hưởng của bộ nguyên tắc của OECD. Bên cạnh phân tích, người viết cũng có đưa ra những đánh giá về việc tuân thủ, tuân thủ đầy đủ hay chưa tuân thủ của 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp luật Việt Nam đối với những nguyên tắc đó và chỉ ra những điểm còn chưa hoàn thiện.
Dựa vào những phân tích được nêu tại chương 2, người viết đưa ra những kiến nghị cần thiết đối với pháp luật Việt Nam về quản trị công ty cổ phần và rút ra những kết luận cần thiết. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ CÔNG TY 1. Sơ lƣợc về quản trị công ty 1. Định nghĩa quản trị công ty Định nghĩa “quản trị công ty” trên thế giới được hiểu bằng rất nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào từng quốc gia và theo những học thuyết khác nhau, theo những cách tiếp cận khác nhau, nhằm phục vụ cho từng đối tượng khác nhau.
Một số định nghĩa tiêu biểu về “quản trị công ty” có thể tham khảo như định nghĩa của Sternbeg (1998) như sau: “quản trị công ty mô tả những cách thức để bảo đảm rằng những hoạt động, tài sản và đại diện của doanh nghiệp được điều hành nhằm đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp do cổ đông công ty đề ra”. Định nghĩa này được đưa ra với định hướng chỉ nhấn mạnh vào khía cạnh bảo vệ quyền lợi của cổ đông và cho rằng mục tiêu của doanh nghiệp chủ yếu do cổ đông công ty đề ra chứ không có yếu tố tác động từ bên thứ ba bên ngoài công ty. Một định nghĩa khác đáng chú ý là định nghĩa về quản trị công ty của Shleifer và Vishny (1997). Định nghĩa này đã mở rộng hơn so với định nghĩa truyền thống bó hẹp về quản trị công ty cổ phần chỉ đơn thuần có ý nghĩa theo góc nhìn của cổ đông, mà còn mở rộng ra những ảnh hưởng của các chủ nợ khác.
Định nghĩa này nhấn mạnh vào việc những người có tham gia vào việc tạo dựng nên nguồn vốn hay cung cấp một phần vốn cho hoạt động của công ty cũng có được một sự đảm bảo nhất định rằng ngoài lợi ích của cổ đông, lợi ích của các chủ nợ cũng được để tâm và các chủ nợ cũng có khả năng tác 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động vào hoạt động quản trị công ty để chắc chắn cho phần tài sản họ đã bỏ ra có thể thu hồi, và có thể có thêm lợi nhuận [18]. Những lý thuyết về quản trị công ty (corporate governance) hầu hết đều gắn liền với các ý niệm về phân chia quyền lực, về đại diện, và mục đích của quản trị công ty tốt [19]. Hiện nay, một trong những định nghĩa xuất hiện trong nền kinh tế hiện đại và được sử dụng rộng rãi nhất tại các nền kinh tế phát triển và một số nền kinh tế đang phát triển là định nghĩa quản trị công ty của OECD, được đưa ra trong Bộ nguyên tắc quản trị công ty sửa đổi vào năm 2004. Theo OECD: Quản trị công ty là hệ thống các luật lệ, quy tắc, quy trình nội bộ và việc thực thi các nội dung đó nhằm định hướng, điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan.
quản trị công ty cũng tạo ra một thể chế nhằm đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty. quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được Ban giám đốc và Hội đồng quản trị hoạt động với mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của các cổ đông và các bên liên quan một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn [12]. Định nghĩa này đưa ra một định nghĩa rất rộng về quản trị công ty và được coi như nguồn tham khảo và áp dụng đối với tất cả những nước hiện đang là thành viên của OECD. Định nghĩa này đặt ra những mối quan hệ giữa ban quản trị công ty, Hội đồng quản trị và các ủy ban, cổ đông và các bên liên quan khác.
Theo đó, quản trị công ty chính là hệ thống được xây 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dựng để điều khiển và kiểm soát các doanh nghiệp. Cấu trúc quản trị công ty chỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số những thành phần khác nhau có liên quan tới công ty cổ phần như Hội đồng quản trị, Giám đốc, cổ đông, và những chủ thể khác có liên quan. quản trị công ty cũng giải thích rõ quy tắc và thủ tục để ra các quyết định liên quan tới vận hành công ty. Bằng cách này, quản trị công ty cũng đưa ra cấu trúc thông qua đó người ta thiết lập các mục tiêu công ty, và cả phương tiện để đạt được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc.
Theo quy định pháp luật Việt Nam, pháp luật doanh nghiệp không đưa ra một định nghĩa chính xác về quản trị công ty, mà giải thích khái niệm “quản trị công ty” là một “hệ thống những nguyên tắc” để nhằm đảm bảo những yêu cầu của pháp luật đối với hoạt động công ty. Những yêu cầu của pháp luật đưa ra có liên quan đến cổ đông, những người liên quan, Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát. Tóm lại, có rất nhiều định nghĩa khác nhau đến quản trị công ty nhưng túm chung lại có thể thấy rằng các định nghĩa đều hướng tới việc coi “quản trị công ty” đồng nghĩa với việc đặt ra những yêu cầu, những quy trình, những thủ tục, những điều kiện mà những người quản lý, quản trị công ty phải tuân thủ theo, nhằm giúp cho việc hoạt động của công ty đi đúng hướng và đạt được những yêu cầu kỳ vọng từ cổ đông và những người liên quan. Từ những kết luận này, có thể đưa ra một khái niệm về quản trị công ty như sau: “Quản trị công ty là một hệ thống các quy tắc và cơ chế nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát công ty, được thực hiện dựa trên những nguyên tắc cụ thể để có thể đáp ứng những yêu cầu và bảo đảm lợi ích của những bên có liên quan”.
Hệ thống quy tắc và cơ chế mà quản trị công ty đặt ra được thể hiện ở việc thiết lập mô hình quản trị, cùng với việc phân công quyền và nghĩa vụ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của từng yếu tố cấu thành mô hình quản trị, cũng như đặt ra cách thức vận hành đối với các bộ phận đó. Khi bộ phận làm nhiệm vụ quản trị công ty thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, các quy tắc, cơ chế do hệ thống quản trị công ty đặt ra giúp việc điều hành công ty được đúng hướng, và nằm trong giới hạn cho phép để nhằm hạn chế tối đa rủi ro, cũng như tạo điều kiện cho chủ sở hữu công ty kiểm soát hoạt động. công ty muốn hoạt động hiệu quả và thỏa mãn được những yêu cầu cũng như bảo đảm lợi ích của cổ đông và các bên liên quan, cần phải tuân thủ theo những chính sách, luật lệ đã được đặt ra. Những mối quan hệ có liên quan đến quá trình quản trị công ty, tùy theo từng hệ thống pháp luật hoặc theo từng mô hình quản trị có thể khác nhau, nhưng bao gồm các mối quan hệ giữa công ty và những đối tượng như: cổ đông, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, người lao động trong công ty, hoặc các bên thứ ba khác.
Nội dung quản trị công ty cổ phần Công ty cổ phần là một trong những loại hình tổ chức kinh doanh phổ biến hiện nay, là “phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động được nhiều vốn nhất cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển” [1, tr. Đối với công ty nói chung, hay công ty cổ phần nói riêng, công ty được coi như là chủ thể pháp lý, là “người” do pháp luật tạo ra. Luật pháp đã trao cho công ty “quyền năng: giống như một cá nhân thực hiện các công việc kinh doanh cho chính mình. Theo quy định pháp luật Việt Nam, công ty cổ phần là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trong đó vốn Điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, gọi là cổ phần.
Những người nằm giữ cổ phần được gọi là cổ đông, mỗi công ty cổ phần có tối thiểu ba cổ đông và không hạn chế số 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các cổ đông chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn đã góp vào công ty đối với các khoản nợ phát sinh trong quá trình công ty tồn tại và hoạt động. Trong khuôn khổ luận văn, công ty cổ phần được sử dụng chung để chỉ các công ty cổ phần đóng, không niêm yết và không phải công ty đại chúng. Trong trường hợp có sử dụng định nghĩa riêng cho từng loại công ty cổ phần (niêm yết, đại chúng) thì các định nghĩa đó sẽ được sử dụng riêng biệt.
Nội dung của quản trị công ty chính là cơ sở để đưa ra các cơ chế quản trị công ty cổ phần.