Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị công cấp tỉnh đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Chương 4: Thực trạng tác động của quản trị công cấp tỉnh đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. Chương 5: Quan điểm, định hướng và một số khuyến nghị chính sách góp phần nâng cao chất lượng quản trị công cấp tỉnh và hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu 1.
Các nghiên cứu ngoài Việt Nam a. Những nghiên cứu liên quan đến quản trị công và tác động của quản trị công tới doanh nghiệp Quản trị công là một nhân tố quyết định cho tăng trưởng kinh tế dài hạn với mọi quốc gia. Tác động của quản trị công đối với tăng trưởng kinh tế không được đề cập trong lý thuyết tân cổ về tăng trưởng, nhưng chất lượng quản trị công đã trở thành một thành phần quan trọng của kinh tế tăng trưởng với sự xuất hiện của các lý thuyết tăng trưởng nội sinh vào cuối những năm 1980 (Bayar, 2016). Sự xuất hiện của các lý thuyết tăng trưởng nội sinh mới đã định hướng các học giả xác định các nguồn lực thay thế cho tăng trưởng kinh tế và xác định xem đâu là các rào cản khác nhau giữa các quốc gia đối với sự phát triển kinh tế.
Về vấn đề này, tác động của chất lượng của quản trị công với tăng trưởng kinh tế đã được nghiên cứu về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn. Phần lớn các tài liệu nghiên cứu thực nghiệm tâp trung nghiên cứu tác động của quản trị công tới tăng trưởng kinh tế ở nhiều quốc gia, sử dụng dữ liệu mảng với chỉ số đo lường quản trị công toàn cầu (Worlwide Governance Indicator) của Ngân hàng Thế giới (WB). Nhìn chung, phần lớn các nghiên cứu đều cho thấy các khía cạnh khác nhau của quản trị công (các chỉ số thành phần đo lường chất lượng quản trị công) có ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng kinh tế của các quốc gia (Beleiu, Pop, & Taampu, 2015; Fayissa & Nsiah, 2013; Haggard & Tiede, 2011; Kraay & Kaufmann, 2002). Ở cách tiếp cận vi mô hơn, có một số lý thuyết có liên quan đến tác động của chất lượng của quản trị công tới hiệu quả doanh nghiệp.
Vì chính phủ là một tổ chức chính trị, các căn cứ lý thuyết quan trọng có thể giải thích cho vai 9 trò của quản trị công với hiệu quả doanh nghiệp nên được tìm hiểu trong các lý thuyết về thể chế và khoa học chính trị. Lý thuyết thể chế của Douglass (1990) lập luận rằng chất lượng thể chế là một điều kiện tiên quyết để thực hiện các hoạt động kinh tế. Nhiều nghiên cứu đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò của pháp luật và phong tục truyền thống đối với quản trị và hiệu quả của các công ty (La Porta, Lopez-de-Silanes, Shleifer, & Vishny, 1999; La Porta, Lopez‐de‐Silanes, & Shleifer, 2002; 1997; Shleifer, Vishny, Porta, & Lopez-de-Silanes, 2000). Lý thuyết khoa học chính trị (Marx, 1872; Olson, 1993) cho rằng các thể chế chính trị được định hình bởi những thiết chế có quyền lực trong nỗ lực củng cố và nắm giữ các nguồn lực để tăng cường lợi ích riêng của họ.
Các viên chức nhà nước khi tìm kiếm đặc quyền có thể làm lợi hay gây hại cho hoạt động của doanh nghiệp tùy thuộc vào mối quan hệ của họ với doanh nghiêp đem lại lợi ích nhiều hơn chi phí hay không (Bayar, 2016). Theo Acemoglu, Johnson, và Robinson (2005), quản trị công có khả năng ảnh hưởng tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh trực tiếp cũng như gián tiếp bởi vì nó chính là yếu tố quyết định của môi trường kinh tế và các thể chế có tác động đáng kể về quá trình ra quyết định của các tác nhân kinh tế chính trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, Bayar (2016) cho rằng quản trị công có tác động tới đầu tư vào vốn vật chất, vốn con người và khoa học - công nghệ, qua đó tạo ra các nguồn lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, quản trị công có thể đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế bằng cách đóng góp vào sự phát triển của khu vực tài chính, gia tăng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và cải thiện hoạt động quản trị doanh nghiệp, từ đó tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
Vì mức độ tham nhũng là một trong những chỉ số quan trọng phản ánh chất lượng quản trị công (Clark, 2017), đã có nhiều nghiên cứu xem xét tác động của tham nhũng (hành vi doanh nghiệp trả phí phi chính thức cho cán 10 bộ, viên chức nhà nước) tới hiệu quả doanh nghiệp ở nhiều quốc gia. Về mặt xã hội, một quốc gia với chất lượng quản trị công yếu kém, thể hiện qua mức độ tham nhũng cao, sẽ gây ra những chi phí và môi trường kinh doanh bất lợi cho doanh nghiệp và do vậy có ảnh hưởng tiêu cực cho tăng trưởng kinh tế trong dài hạn (Acemoglu và cộng sự, 2005). Tuy nhiên, xét theo lơi ích và chi phí của mỗi doanh nghiệp khi đối mặt với hành vi trả phí tham những, có hai nhóm lý thuyết cũng như bằng chứng thực nghiệm cho thấy có những tác động trái chiều nhau của tham nhũng tới hiệu quả doanh nghiệp. Trong một số trường hợp cụ thể, những doanh nghiệp muốn vượt qua những rào cản cứng nhắc và bất hợp lý của thủ tục hành chính và cần đẩy nhanh tiến độ giải quyết công việc kinh doanh thì tham nhũng khi không hẳn đã gây ra chi phí cao hơn cho doanh nghiệp (Svensson, 2005).
Đó là vì các chi phí về thời gian còn có thể cao hơn cả chi phí mà doanh nghiệp phải trả các khoản phí phi chính thức. Do vậy tham nhũng cho phép doanh nghiệp giải quyết các thủ tục nhanh hơn, vượt qua những bất cập của các quy định phức tạp và cứng nhắc. Khi đó, với các khoản bôi trơn nói trên thì doanh nghiệp sẽ có lợi hơn nhờ thúc đẩy được tiến độ và cơ hội kinh doanh (Dreher & Gassebner, 2013; Svensson, 2005). Bằng chứng thực nghiệm cũng cho thấy ở một số nước như Indonesia và Trung Quốc thì những tham nhũng có quan hệ dương với tăng trưởng và đầu tư của doanh nghiệp (Rock & Bonnett, 2004).
Mặt khác, trong một môi trường quản trị công yếu kém (thể hiện bằng mức độ tham nhũng cao và phổ biến) sẽ có thể làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của doanh nghiệp qua việc làm đảo lộn động cơ khuyến khích. Khi đó trình độ công nghệ cũng như hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp không được coi trọng và doanh nghiệp sẽ mất đi động lực sáng tạo và gia tăng đầu tư để tăng năng suất (Murphy, Shleifer, & Vishny, 1993; Rock & Bonnett, 2004). Do vậy, quản trị công yếu kém được xem như những rào cản 11 cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp (Tran, Huong, Doan, & Tran, 2016). Trong một môi trường quản trị công yếu kém thì nguồn lực công sẽ bị phân bổ sai lệch và chúng không được phân bổ tới những doanh nghiệp có khả năng sử dụng tốt nhất, và thay vì đó nguồn lực đó lại dành cho những doanh nghiệp hối lộ lớn nhất (Dreher & Gassebner, 2013; Jain, 2001).
Bằng chứng thực nghiệm ở nhiều quốc gia cho thấy chất lượng quản trị công yếu kém có tác động tiêu cực tới tăng trưởng và đầu tư của các doanh nghiệp (Rock & Bonnett, 2004). Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại cung cấp bằng chứng tác động hai chiều, cả tích cực và tiêu cực của chất lượng quản trị công tới doanh nghiệp, và do vậy ủng hộ cả hai giả thuyết: tham nhũng là “hạt sạn” và tham nhũng là “dầu nhờn bôi trơn” cho bánh xe. Nghiên cứu của Sharma và Mitra (2015) về tác động của chất lượng quản trị công với các doanh nghiệp ở Ấn Đô cho thấy tham nhũng làm làm giảm năng suất của doanh nghiệp nói chung, và giảm động cơ cải tiến hiệu quả nhưng tham nhũng lại có tác động dương với các doanh nghiệp xuất khẩu. Tóm lại, chính phủ là một thể chế chính trị, chất lượng và phương thực vận hành của chính phủ tác động tới các vấn đề quan trọng của nền kinh tế như các quy định, sự cạnh tranh, phân bổ nguồn lực, cơ sở hạ tầng 3 cho hoạt động kinh tế, và hệ thống luật pháp được vận hành có hiệu quả.
Tất cả những yếu tố trên có ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động của các doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế ở mọi quốc gia. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu thường đề cập chất lượng quản tri công cấp độ quốc gia và ảnh hưởng của nó tới hoạt động của doanh nghiệp (Choi, Jiang, & Shenkar, 2015). Cách tiếp cận này không đề cập tới vai trò của quản trị công địa phương trong điều hành và quản lý kinh tế, và điều này là khá quan trọng với một số quốc gia nơi mà 3 Khái niệm cơ sở hạ tầng trong Luận án này được hiểu là Kết cấu hạ tầng: giao thông, điện nước, công nghệ thông tin. được sử dụng trong khảo sát PCI (khác với khái niệm cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng) 12 chính quyền địa phương có vai trò độc lập tương đối hay tính tự trị cao trong thưc thi các chính sách của chính quyền trung ương (Choi và cộng sự, 2015).
Những nghiên cứu liên quan đến quản trị công cấp tỉnh và tác động của quản trị công cấp tỉnh tới hoạt động của DNNVV Dựa trên ý tưởng của Kornai về vai trò của chính phủ trong tạo lập kinh tế thị trường (Janos, 1990). Walder (1995) cho rằng các đặc điểm tổ chức của chính quyền địa phương có thể giải thích sự phân hóa theo vùng về sự năng động trong công nghiệp hóa ở Trung Quốc. Hai nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới Dollar, Hallward-Driemeier, và Mengistae (2005) và Dethier, Hirn, và Straub (2010) đã cung cấp bằng chứng vững chắc về mối quan hệ giữa môi trường kinh doanh địa phương và hiệu quả của doanh nghiệp ở Trung Quốc. Một nghiên cứu khác của Ngân hàng Thế giới cho thấy sự cung cấp thông tin thị trường và các khoản cho vay của chính quyền địa phương có tác động tích cực tới hiệu quả của doanh nghiệp(Cull, Xu, Yang, Zhou, & Zhu, 2017).
Ở một nghiên cứu khác lại cho thấy chi tiêu của chính quyền địa phương cho các hoạt động quản lý hành chính có tác đông âm tới doanh thu của doanh nghiệp (Firth, Gong, & Shan, 2013).