phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn đƣợc thiết kế thành 4 chƣơng, đi từ lý thuyết đến thực tiễn, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu; và cơ sở lý luận - thực tiễn về quản lý vốn dự án đầu tƣ xây dựng công trình thủy lợi từ ngân sách nhà nƣớc. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý vốn dự án đầu tƣ xây dựng công trình thủy lợi từ ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2012 – 2015. Chƣơng 4: Định hƣớng, quan điểm và giải pháp tăng cƣờng quản lý vốn dự án đầu tƣ xây dựng công trình thủy lợi từ ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2016 – 2020, tầm nhìn 2030.
3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU; VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN Vấn đề quản lý và sử dụng NSNN trong điều kiện kinh tế thị trƣờng hiện nay đƣợc các cơ quan của Đảng, Nhà nƣớc và nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm. Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề này; trong đó các công trình nghiên cứu về NSNN tập trung chủ yếu vào chính sách thu hoặc chi NSNN nhằm tạo lập căn cứ để Nhà nƣớc ban hành các luật thuế và chính sách chi hằng năm của Nhà nƣớc. Dƣới đây là một số công trình đã đƣợc công bố, có liên quan đến luận văn.
Khái quát nội dung của một số công trình ở nước ngoài Để chứng minh cho vai trò của đầu tƣ công trong tăng trƣởng kinh tế và mối quan hệ giữa đầu tƣ công, nợ nƣớc ngoài, và tăng trƣởng kinh tế, các tác giả Benedict Clements, Rina Bhattacharya, and Toan Quoc Nguyen, đã có bài phân tích: “External Debt, Public Investment, and Growth in LowQIncome Countries” – Nợ nƣớc ngoài, đầu tƣ công và tăng trƣởng kinh tế ở các nƣớc có thu nhập thấp (2003). Trong nghiên cứu này, các tác giả đã tổng quan các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đƣa ra các mô hình tăng trƣởng, mô hình đầu tƣ công; từ đó định lƣợng và phân tích các tác động qua chứng minh thực tế từ các nƣớc có thu nhập thấp (Togo, Benin, Eritrea, Mauritania, Uganda, Bhutan, Ethiopia, Mozambique, Vanuatu, Bolivia, Gambia, The Nepal, Vietnam, Burkina Faso, Ghana, Nicaragua, Yemen, Burundi, Guinea, Niger, Zambia,. Tìm hiểu kinh nghiệm quản lý của các quốc gia khác để có các giải pháp quản lý hiệu quả đầu tƣ công, đặc biệt là đầu tƣ cho cơ sở hạ tầng là rất quan trọng, nên đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Công trình của Bernard Myers và Thomas Laursen về “Public Investment Management in the EU” – Quản trị đầu tƣ 4 z công ở EU (10/5/2008) đã tổng kết lại toàn bộ kinh nghiệm quản lý đầu tƣ công của 10 nƣớc thành viên EU từ giai đoạn 2000 đến 2006, trong đó tập trung khảo cứu kinh nghiệm của Anh và Ireland.
Đây là hai nƣớc có nền kinh tế phát triển; tuy nhiên, trong giai đoạn đƣợc khảo sát, lại có mức nợ công cao nhất trong khối EU. Những phát hiện này là có giá trị thảm khảo bổ ích cho Việt Nam trong việc lựa chọn phƣơng pháp quản lý đối với đầu tƣ công. Bàn về giải pháp phân bổ đầu tƣ công hiệu quả, đặc biệt là chi đầu tƣ cơ sở hạ tầng, Angel de la Fuente có công trình: “Second-best redistribution through public investment: a characterization, an empirical test and an application to the case of Spain” - Phân bổ lại tốt nhất lần thứ hai qua đầu tƣ công: đặc thù kiểm tra thực tiễn và ứng dụng tại Tây Ban Nha” (2003). Ở đây, tác giả đã phân tích vai trò phân phối lại của đầu tƣ công, đƣa ra mô hình phân bổ hiệu quả trong đầu tƣ cơ sở hạ tầng, ứng dụng cụ thể tại Tây Ban Nha; từ đó rút ra kết luận: Tây Ban Nha có thể tăng hiệu quả chi đầu tƣ cơ sở hạ tầng khu vực bằng cách tăng chi tiêu nhiều hơn cho khu vực giàu, ít hơn cho khu vực nghèo; tuy nhiên tác giả cũng chỉ ra rằng, kết luận trên không thể áp dụng cho toàn bộ EU, vì mỗi nƣớc và mỗi địa phƣơng có những đặc thù riêng.
Các nhà nghiên cứu không chỉ quan tâm đến phƣơng pháp quản lý đầu tƣ công mà còn quan tâm đến việc đánh giá quản lý đầu tƣ công, từ đó tìm ra điểm yếu trong quản lý để có giải pháp tốt hơn nhằm tăng cƣờng hiệu quả chi NSNN. Các tác giả Anand Rajaram, Tuan Minh Le, Nataliya Biletska và Jim Brumby đã có bài báo: “A Diagnostic Framework for Assessing Public Investment Management” – Một cái khung chuẩn cho đánh giá quản trị đầu tƣ công (2010). Đây là sản phẩm của họ trong quá trình làm việc tại WB từ năm 2005 đến năm 2007, trong lĩnh vực nghiên cứu về chính sách tài chính cho tăng trƣởng và phát triển của các quốc gia. Bài báo đã chỉ ra 8 đặc trƣng cơ bản của một hệ thống đầu tƣ công tốt: (1) hƣớng dẫn đầu tƣ, phát triển dự án và chuẩn bị dự án; (2) thẩm định dự án; (3) tổng quan một cách độc lập việc thẩm định dự án; (4) lựa chọn dự án và ngân sách; (5) thực hiện dự án; (6) điều chỉnh dự án; (7) tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của dự án; và (8) đánh giá dự án.
Bài 5 z báo không có mục đích là đƣa ra phƣơng pháp quản lý tốt nhất cho quản lý đầu tƣ công, nhƣng các tác giả đã chỉ ra những rủi ro chính và cung cấp một chu trình có hệ thống cho quản trị đầu tƣ công. Đồng thời, các tác giả cũng phát triển một khung chuẩn để đánh giá từng giai đoạn trong chu trình quản trị đầu tƣ công. Và mục đích cuối cùng của bài báo là thúc đẩy việc tự đánh giá quản lý đầu tƣ công của chính phủ, các cơ quan sử dụng ngân sách, tìm ra điểm yếu; từ đó tập trung khắc phục những thiếu sót trong quản trị, với những phƣơng pháp có ảnh hƣởng lớn đến hiệu quả chi đầu tƣ công, hƣớng tới hoàn thiện quản lý chi đầu tƣ từ NSNN. Ngoài ra, ở nƣớc ngoài còn có một số công trình khác.
Nhìn chung, các nghiên cứu nƣớc ngoài đã bàn khá toàn diện về cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phân tích và đánh giá quản lý chi NSNN trong đầu tƣ xây dựng công trình thủy lợi, và các giải pháp nhằm quản lý chi NSNN trong đầu tƣ xây dựng công trình thủy lợi hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc ứng dụng để đánh giá thực trạng và đƣa ra các giải pháp quản lý chi NSNN trong đầu tƣ xây dựng công trình thủy lợi ở Việt Nam hoặc ở từng địa phƣơng ở Việt Nam thì cần phải vận dụng linh hoạt và có những điều kiện nhất định;… 1. Khái quát nội dung của một số công trình trong nước Báo cáo "Quản lý chi tiêu công để tăng trưởng và giảm nghèo" của Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới. (2005), khẳng định: Chi tiêu công là một trong các công cụ quan trọng nhất của Chính phủ để thúc đẩy tăng trƣởng và giảm nghèo; báo cáo còn đề cập đến chi tiêu công cho giáo dục, y tế, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn.
“Giải pháp tiến tới cân bằng NSNN” (luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Lan, bảo vệ năm 2006) đã đề xuất và luận chứng các nhóm giải pháp tiến tới cân bằng thu chi NSNN, gắn với mục tiêu cân đối thu – chi NSNN. Nội dung nghiên cứu về cơ bản xoay quanh vấn đề cân đối thu NSNN với chi NSNN. Theo tác giả, phải tập trung xử lý thâm hụt NSNN hiện hành để hƣớng tới cân đối thu – chi NSNN, cụ thể là đã phân tích, tổng hợp vấn đề cân đối NSNN, vấn đề xử lý thâm hụt NSNN, các phƣơng pháp xử lý thâm hụt ngân sách trên thế giới; chỉ ra những hạn chế về khả 6 z năng áp dụng ở Việt Nam là do Việt Nam chƣa quản lý vay nợ một cách chặt chẽ. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thế Sáu: “ Quản lý tài chính dự án đầu tư bằng vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”, 2006.
Ở đây tác giả đã hệ thống lại toàn bộ những vấn đề lý luận chung về quản lý tài chính dự án đầu tƣ bằng vốn NSNN, đã chỉ ra những nhân tố có ảnh hƣởng đến công tác quản lý tài chính dự án đầu tƣ bằng vốn NSNN; đánh giá thực trạng công tác này tại tỉnh Bắc Giang; từ đó đã đề xuất một số giải pháp để tăng cƣờng quản lý tài chính dự án đầu tƣ bằng vốn NSNN trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, tác giả chƣa đƣa ra đƣợc các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của hoạt động quản lý này. Luận văn thạc sĩ kinh tế “ Quản lý đầu tư công trên địa bàn tỉnh Bình Định” của Nguyễn Thanh Minh (2011), luận văn đã tổng quan đƣợc các lý thuyết cơ bản về đầu tƣ và quản lý đầu tƣ công; và dựa vào đó, tác giả đã phân tích thực trạng quản lý đầu tƣ công trên địa bàn tỉnh Bình Định, phát hiện các hạn chế và nguyên nhân của hạn chế. Đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đầu tƣ công trên địa bàn tỉnh Bình Định.
Điểm mạnh của luận văn là có tính ICOR từ vốn NSNN để đánh giá hiệu quả đầu tƣ công, có đƣa ra một dự án đầu tƣ công để làm ví dụ cho phân tích công tác quản lý đầu tƣ công trên địa bàn tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, luận văn này chỉ thiên về nghiên cứu công tác quản lý theo quy trình dự án đầu tƣ, chƣa nghiên cứu công tác quản lý theo chu trình NSNN. Luận án tiến sĩ “ Giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi từ NSNN trên địa bàn tỉnh Nghệ An” của tác giả Phan Thanh Mão (2003), đã hệ thống hóa và luận giải một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nguồn vốn NSNN trong đầu tƣ xây dựng công trình thủy lợi, các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý vốn NSNN trong đầu tƣ xây dựng công trình thủy lợi; tác giả còn nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia khác về vấn đề này.