Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) từ nguồn vốn ngân sách nhà nước (NSNN) giữ vai trò then chốt trong việc tạo lập hệ thống cơ sở vật chất, tài sản cố định và hạ tầng kỹ thuật - xã hội phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế của quốc gia cũng như từng địa phương. Đối với huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi – một địa bàn có vị trí địa lý quân sự chiến lược đặc thù ở vùng biển phía Đông của Tổ quốc và đang trong tiến trình đẩy mạnh phát triển kinh tế biển kết hợp du lịch – nhu cầu huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách cho đầu tư công là nhiệm vụ mang tính cấp thiết hàng đầu. Trong những năm gần đây, chính quyền huyện Lý Sơn và Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện đã triển khai nhiều biện pháp nhằm cải tiến quy trình quản lý, bố trí vốn đầu tư theo danh mục kế hoạch và tăng cường công tác thẩm định, phê duyệt. Dẫu vậy, hoạt động quản lý vốn đầu tư XDCB tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, từ khâu lựa chọn nhà thầu đến việc thanh tra, kiểm tra dự án, dẫn đến tình trạng hiệu quả sử dụng vốn chưa tương xứng với tiềm năng, nguy cơ thất thoát và lãng phí còn hiện hữu.

Trước yêu cầu cấp bách đó, khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Kế hoạch đầu tư của tác giả Trần Thị Mỹ Trường (Khoa Kinh tế và Phát triển, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế) dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Hoàng Diễm My đã tập trung giải quyết bài toán quản lý nguồn lực tài chính công phục vụ đầu tư cơ sở hạ tầng tại huyện đảo Lý Sơn.

Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2019 – 2021; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này trong thời gian tới. Để hiện thực hóa mục tiêu chung, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN ở cấp huyện.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn huyện Lý Sơn giai đoạn 2019 – 2021 thông qua số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát thực tế.
  3. Đề xuất định hướng và các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách tại địa phương trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung toàn diện trên địa bàn huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (bao gồm Đảo Lớn với xã An Vĩnh, An Hải và Đảo Bé thuộc xã An Bình). Phạm vi về mặt thời gian khảo sát thực tế tình hình phân bổ, giải ngân và quản lý vốn trong chu kỳ 3 năm từ năm 2019 đến năm 2021 (kèm theo một số chỉ tiêu cập nhật đến năm 2022).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về mặt lý luận, khóa luận tiếp cận khái niệm vốn đầu tư dựa trên nghiên cứu của Hồ Tú Linh (2014): vốn đầu tư là nguồn vốn tích lũy của xã hội, cơ sở sản xuất kinh doanh - dịch vụ, tiền đề tiết kiệm của nhân dân và các nguồn huy động hợp pháp khác được đưa vào tái sản xuất xã hội nhằm duy trì và tạo lập tiềm lực lớn hơn. Từ đó, tác giả khu biệt vốn đầu tư XDCB từ NSNN là một bộ phận vốn chi tiêu công của Nhà nước dùng cho việc xây mới, cải tạo, mở rộng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất kinh tế - xã hội phi lợi nhuận. Khóa luận phân loại vốn đầu tư công theo 3 tiêu chí: phân theo cấp ngân sách (ngân sách trung ương và ngân sách địa phương); phân theo tính chất kết hợp nguồn vốn (vốn đầu tư NSNN tập trung và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư); phân theo nguồn hình thành (nguồn vốn trong nước và nguồn vốn ngoài nước/ODA).

Nghiên cứu xác lập 4 nguyên tắc cốt lõi trong quản lý vốn đầu tư công gồm: (1) Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả; (2) Nguyên tắc tập trung dân chủ; (3) Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa các lợi ích (Nhà nước, doanh nghiệp, người lao động và cộng đồng hưởng lợi); (4) Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo vùng lãnh thổ. Đồng thời, quy trình quản lý được mổ xẻ qua 6 khâu nghiệp vụ chính gắn liền với khung pháp lý hiện hành (đặc biệt là Luật Đấu thầu năm 2013):

  • Quản lý quy hoạch dự án và phân bổ vốn đầu tư;
  • Lập, thẩm định và phê duyệt chủ trương, dự án đầu tư;
  • Tổ chức đấu thầu và lựa chọn nhà thầu (rộng rãi, hạn chế, chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh, mua sắm trực tiếp);
  • Thanh toán và kiểm soát thanh toán vốn qua Kho bạc Nhà nước;
  • Quyết toán vốn đầu tư theo niên độ và quyết toán dự án hoàn thành;
  • Thanh tra, kiểm tra và giám sát, đánh giá đầu tư.

Bên cạnh lý thuyết, tác giả tổng hợp bài học thực tiễn từ hai địa phương điển hình trong nước:

  • Thành phố Đà Nẵng: Bài học về cắt giảm thủ tục hành chính rút ngắn thời gian thẩm định, phê duyệt đối với dự án nhóm A (còn khoảng 217 ngày), nhóm B (232 ngày), nhóm C (227 ngày); áp dụng 3 cơ chế giải phóng mặt bằng linh hoạt ("Nhà nước thu hồi đất theo quy hoạch", "Góp đất và điều chỉnh lại đất đai", "Đối thoại" và "Đồng thuận"); thực hiện công khai, minh bạch đường dây nóng tiếp nhận phản ánh dự án.
  • Tỉnh Bình Định: Coi trọng tính đồng bộ của quy hoạch dài hạn; cơ chế điều tiết kế hoạch vốn vào cuối quý 3 hàng năm bằng cách cắt giảm vốn các dự án giải ngân chậm chuyển sang dự án có khối lượng thanh toán; kiên quyết ưu tiên vốn thanh toán nợ đọng XDCB và dừng khởi công dự án dàn trải.

Về phương pháp thu thập dữ liệu, tác giả kết hợp hai nguồn:

  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội, báo cáo tổng kết tài chính - ngân sách qua các năm do Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Lý Sơn cung cấp, tài liệu Niên giám thống kê huyện Lý Sơn, website điện tử của tỉnh Quảng Ngãi và huyện Lý Sơn.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra bằng phiếu hỏi đối với mẫu gồm 30 cán bộ chuyên trách công tác quản lý dự án đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn huyện (thuộc Phòng Đấu thầu, Thẩm định và Giám sát đầu tư; Phòng Quy hoạch, Tổng hợp). Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, phát ra 30 phiếu và thu về 30 phiếu hợp lệ (đạt 100%). Cấu trúc phiếu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1 = Rất không đồng ý đến 5 = Rất đồng ý) để đo lường cảm nhận chuyên môn của cán bộ về từng mắt xích trong chu trình quản lý.

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh (số tuyệt đối và số tương đối qua các năm, so sánh thực tế với kế hoạch). Toàn bộ dữ liệu khảo sát và bảng biểu tài chính được tổng hợp, xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS 20.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước

Chương này dành trọn dung lượng để xây dựng hệ thống cơ sở khoa học về vốn và quản lý vốn đầu tư XDCB. Tác giả luận giải sâu sắc 5 đặc điểm nội tại của hoạt động XDCB: vốn đầu tư lớn và ứ đọng lâu dài; chu kỳ thực hiện kéo dài chịu nhiều biến động; sản phẩm có giá trị sử dụng qua nhiều thập kỷ; công trình xây dựng có tính chất cố định tại vị trí địa lý nhất định; và tính chất liên ngành, liên vùng phức tạp. Từ các đặc thù này, chương 1 khẳng định sự cần thiết khách quan của việc quản lý chặt chẽ vốn NSNN nhằm: (1) Đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa; (2) Ngăn ngừa tình trạng thất thoát, lãng phí (vốn thường chiếm tới khoảng 30% tổng chi ngân sách); (3) Đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội tổng hợp; (4) Hiện thực hóa phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"; và (5) Phù hợp với lộ trình hội nhập quốc tế.

Chương 1 cũng làm rõ 5 nhóm nhân tố chi phối hiệu quả quản lý, bao gồm: cơ chế chính sách quản lý đầu tư xây dựng; chất lượng nguồn nhân lực trực tiếp làm công tác quản lý; hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát; năng lực huy động và phân bổ nguồn vốn (đặc biệt là nguy cơ thất thoát tập trung chủ yếu ở chi phí xây lắp và chi phí xây dựng khác); cùng với sự phân định trách nhiệm giữa các cấp, các ngành liên quan.

Chương 2: Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2019 – 2021

Chương 2 mở đầu bằng bức tranh tổng quan về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và kinh tế - xã hội của huyện đảo Lý Sơn: diện tích tự nhiên 997 ha (trong đó đất nông nghiệp 409 ha chiếm 42%, đất bazan nâu đỏ 845 ha chiếm 84,76%), dân số năm 2022 là 23.000 người với mật độ trên 2.000 người/km2 (phân bố lệch lớn: xã An Vĩnh chiếm 57,5% dân số toàn huyện, An Bình chỉ chiếm 2,88%). Tổng số người trong độ tuổi lao động là 12.641 người (chiếm 53,69%). Đề tài điểm lại các mốc hạ tầng kỹ thuật quan trọng như dự án kéo cáp ngầm lưới điện quốc gia 22kV xuyên biển năm 2014 (dài 26km, nặng 500 tấn, vốn trên 700 tỷ đồng) và dự án hồ chứa nước ngọt năm 2020 (75 tỷ đồng).

Về cân đối thu – chi ngân sách, số liệu của Phòng Tài chính – Kế hoạch cho thấy tổng thu NSNN trên địa bàn có xu hướng giảm dần qua 3 năm do ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19: từ 434.105 triệu đồng (2019) giảm xuống 310.194 triệu đồng (2020) và chỉ còn 260.888 triệu đồng (2021). Nguồn thu nội địa rất khiêm tốn (chiếm khoảng 3,01% - 4,03%), nguồn lực chủ yếu phụ thuộc vào thu chuyển giao ngân sách cấp trên. Về chi ngân sách địa phương, chi cho đầu tư XDCB giảm mạnh từ 94.029 triệu đồng năm 2019 (chiếm 30,4% tổng chi) xuống 53.050 triệu đồng năm 2020 (17,6%) và 42.290 triệu đồng năm 2021 (16,22%).

Về quy mô và cơ cấu nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN, tổng số vốn phân bổ trong 3 năm đạt 450.219 triệu đồng cho 60 dự án:

Chỉ tiêu vốn ĐTXDCB Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 Tổng 2019-2021 So sánh 2020/2019 (%) So sánh 2021/2020 (%)
Vốn NS huyện, xã & huy động khác (tr.đ) 48.987 33.784 50.247 133.018 -31,03 +48,73
Vốn NS Trung ương & NS tỉnh (tr.đ) 99.149 94.228 123.824 317.201 -4,90 +31,32
Tổng nguồn vốn ĐTXDCB (tr.đ) 148.136 128.012 174.071 450.219 -13,58 +35,98
Số lượng công trình, dự án (dự án) 20 17 23 60 -15,00 +35,29

Tác giả phân tích cụ thể các danh mục dự án trọng điểm được chỉ đạo đôn đốc theo từng năm:

  • Năm 2019 (20 dự án): Cảng Bến Đình (thi công từ năm 2016 vẫn chưa hoàn thành); Trung tâm Chính trị - Hành chính huyện Lý Sơn; tuyến đường Đồn Biên Phòng đi Âm Linh Tự (giai đoạn 2); đường Giếng Tiền đi khu nghĩa địa tập trung; sửa chữa Trường Mầm non An Vĩnh; mương thoát nước 773 thôn Đông.
  • Năm 2020 (17 dự án): Cải tạo, sửa chữa và xây mới Trường THPT Lý Sơn; hệ thống trữ nước sinh hoạt kết hợp tưới tiết kiệm nông nghiệp; phục dựng di tích bộ xương cá Ông Lăng Tân; đường cảng Bến Đình đi THPT Lý Sơn; nhà điều hành dịch vụ xã An Bình.
  • Năm 2021 (23 dự án): Trục đường chính trung tâm huyện; Trung tâm Y tế Quân – Dân y; chỉnh trang khu vực bãi tắm Hang Câu; hồ chứa nước núi Thới Lới và kênh tiêu thoát úng nội đồng; nâng cấp Chợ thôn Tây An Hải; khu huấn luyện bơi, cứu hộ cứu nạn lực lượng vũ trang.

Về công tác khảo sát 30 cán bộ, kết quả điều tra sơ cấp chỉ ra sự hài lòng tương đối cao đối với khâu lập quy hoạch và phân bổ kế hoạch vốn (ngày càng công khai, bám sát định hướng phát triển địa phương). Ngược lại, khâu thẩm định phê duyệt còn chịu ảnh hưởng chủ quan của cá nhân; công tác đấu thầu vẫn tồn tại hiện tượng chưa thực sự công khai, cạnh tranh và minh bạch. Đặc biệt, khâu kiểm tra, giám sát bộc lộ bất cập lớn khi số lượng dự án được thanh tra hàng năm quá ít so với tổng số 60 công trình triển khai, tần suất thanh tra không thường xuyên khiến hiệu quả phát hiện sai phạm chưa cao.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Lý Sơn

Trên cơ sở phân tích thực trạng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện đảo, chương 3 đề xuất 5 nhóm giải pháp quản lý trọng tâm:

  1. Hoàn thiện công tác quy hoạch dự án đầu tư: Đảm bảo quy hoạch XDCB đồng bộ với quy hoạch tổng thể sử dụng đất và quy hoạch không gian biển; kiên quyết loại bỏ các dự án không nằm trong danh mục quy hoạch ngành hoặc chưa xác định rõ nguồn vốn.
  2. Hoàn thiện kế hoạch phân bổ vốn đầu tư: Khắc phục triệt để tình trạng phân bổ vốn dàn trải; tập trung vốn thanh toán nợ đọng XDCB; ưu tiên bố trí nguồn ngân sách cho các công trình hạ tầng dân sinh cấp thiết như nước sạch, bảo vệ môi trường, đê kè chắn sóng và trung tâm y tế, trường học.
  3. Nâng cao chất lượng công tác lập, thẩm định và phê duyệt dự án: Nâng cao năng lực chuyên môn của hội đồng thẩm định thuộc huyện; quy định rõ ràng trách nhiệm cá nhân của người ký duyệt dự toán; thuê tư vấn phản biện độc lập đối với các công trình hạ tầng phức tạp ngoài hải đảo.
  4. Nâng cao chất lượng đấu thầu và lựa chọn nhà thầu: Tăng cường tổ chức đấu thầu rộng rãi công khai trên mạng đấu thầu quốc gia; kiểm tra năng lực kỹ thuật và trang thiết bị thực tế của nhà thầu xây lắp ra đảo; hạn chế tối đa việc lạm dụng hình thức chỉ định thầu.
  5. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát đầu tư: Mở rộng số lượng công trình được thanh tra hàng năm; kết hợp kiểm tra định kỳ với kiểm tra đột xuất hiện trường; phát huy vai trò giám sát cộng đồng của nhân dân địa phương theo đúng phương châm "Dân kiểm tra".

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu của khóa luận mang lại những kết quả rõ ràng, được chứng minh qua hệ thống số liệu tài chính cụ thể tại huyện Lý Sơn trong giai đoạn 2019 – 2021:

  • Làm rõ cấu trúc phân bổ 450.219 triệu đồng vốn đầu tư XDCB trên địa bàn huyện, trong đó nguồn vốn từ ngân sách cấp trên (Trung ương và tỉnh) đóng vai trò xương sống với 317.201 triệu đồng (chiếm 70,45%), nguồn ngân sách địa phương (huyện, xã và huy động khác) đạt 133.018 triệu đồng (chiếm 29,55%).
  • Đánh giá chi tiết sự chuyển dịch tổng nguồn vốn đầu tư XDCB theo từng năm: giảm 13,58% trong năm 2020 (đạt 128.012 triệu đồng) do dịch Covid-19 làm chậm tiến độ thi công, sau đó tăng mạnh 35,98% vào năm 2021 (đạt 174.071 triệu đồng) nhằm đẩy nhanh các dự án hạ tầng phục vụ phục hồi kinh tế.
  • Khái quát tỷ trọng chi đầu tư XDCB trong cơ cấu chi ngân sách huyện Lý Sơn: từ mức cao 30,4% năm 2019 giảm về 17,6% năm 2020 và 16,22% năm 2021.
  • Ghi nhận các thành tựu cải thiện cơ sở vật chất từ nguồn vốn NSNN: nâng tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia lên 7/9 trường vào năm 2021; củng cố mạng lưới y tế với 1 trung tâm y tế (65 giường bệnh, 71 cán bộ chuyên môn) và 2 trạm y tế cơ sở.
  • Về mặt lý luận và thực tiễn, đóng góp của đề tài là xây dựng mô hình đánh giá công tác quản lý vốn NSNN tại một huyện đảo đặc thù, kết hợp phân tích số liệu tài khóa với ý kiến khảo sát từ chính 30 cán bộ chuyên môn phụ trách kế hoạch, quy hoạch và thẩm định dự án của huyện Lý Sơn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thẳng thắn phản ánh các giới hạn nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh thu thập dữ liệu và phạm vi đề tài:

  • Về phạm vi không gian và đối tượng mẫu: Do Lý Sơn là huyện đảo có quy mô nhỏ, bộ máy hành chính chuyên trách về tài chính và quản lý dự án đầu tư có số lượng nhân sự hạn chế, cỡ mẫu điều tra dừng lại ở 30 cán bộ chuyên môn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Mẫu khảo sát này mang tính chuyên sâu của cơ quan quản lý nhà nước nhưng chưa bao quát được góc nhìn của các nhà thầu thi công và các tổ chức giám sát cộng đồng từ phía người dân.
  • Về bối cảnh dữ liệu thời gian: Chu kỳ nghiên cứu 2019 – 2021 trùng khớp với thời điểm đại dịch Covid-19 bùng phát phức tạp và các biến động về vật giá vật liệu xây dựng vận chuyển ra đảo, dẫn đến một số dự án bị gián đoạn tiến độ hoặc giải ngân chậm mang tính khách quan.

Hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai bao gồm: tiếp tục theo dõi hiệu quả quản lý vốn đầu tư công trong giai đoạn phục hồi kinh tế (2022 – 2025); mở rộng đối tượng khảo sát sang các đơn vị tư vấn thiết kế, nhà thầu xây dựng và người thụ hưởng công trình; đồng thời nghiên cứu sâu hơn về cơ chế quản lý rủi ro thiên tai, biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến chi phí và suất đầu tư xây dựng trên các huyện đảo tiền tiêu.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với:

  • Sinh viên, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Kế hoạch đầu tư, Quản trị tài chính công, Kinh tế phát triển khi cần một nghiên cứu điển hình (case-study) về quản lý đầu tư công tại cấp huyện.
  • Cán bộ, chuyên viên công tác tại Phòng Tài chính – Kế hoạch, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các huyện hải đảo hoặc vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, tương đồng với huyện đảo Lý Sơn.
  • Các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách kinh tế biển đảo, đặc biệt là việc tham khảo các bảng số liệu chi tiết về cân đối thu chi ngân sách, cơ cấu nguồn vốn đầu tư theo ngành và các bài học kinh nghiệm xử lý giải phóng mặt bằng, đấu thầu xây lắp ngoài đảo xa.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nghiên cứu quản lý vốn đầu tư XDCB trong giai đoạn nào và tổng nguồn vốn ghi nhận được là bao nhiêu? Nghiên cứu khảo sát trong giai đoạn 3 năm từ 2019 đến 2021. Tổng quy mô vốn đầu tư XDCB từ NSNN tại huyện Lý Sơn trong giai đoạn này đạt 450.219 triệu đồng, được phân bổ cho 60 dự án (năm 2019: 148.136 triệu đồng với 20 dự án; năm 2020: 128.012 triệu đồng với 17 dự án; năm 2021: 174.071 triệu đồng với 23 dự án).

2. Tỷ trọng chi đầu tư XDCB trong tổng chi ngân sách huyện Lý Sơn giai đoạn 2019 – 2021 biến động ra sao? Chi đầu tư XDCB có sự sụt giảm cả về giá trị tuyệt đối lẫn tỷ trọng: năm 2019 chi đầu tư đạt 94.029 triệu đồng (chiếm 30,4% tổng chi ngân sách huyện); năm 2020 giảm xuống 53.050 triệu đồng (chiếm 17,6%); và năm 2021 còn 42.290 triệu đồng (chiếm 16,22%). Chi thường xuyên luôn chiếm tỷ trọng chi phối trong tổng chi ngân sách địa phương (từ 69,6% đến 82,4%).

3. Khảo sát sơ cấp của tác giả được thực hiện với quy mô mẫu ra sao và sử dụng công cụ gì? Tác giả đã phát phiếu phỏng vấn tới 30 cán bộ chuyên môn trực tiếp làm việc tại Phòng Đấu thầu, Thẩm định và Giám sát đầu tư cùng Phòng Quy hoạch, Tổng hợp trên địa bàn huyện Lý Sơn. Tỷ lệ phản hồi đạt 100% (30/30 phiếu hợp lệ). Công cụ phân tích sử dụng thang đo Likert 5 mức độ và được xử lý bằng phần mềm Excel và SPSS 20.

4. Khóa luận tiếp thu những bài học kinh nghiệm cụ thể nào từ TP. Đà Nẵng và tỉnh Bình Định? Từ Đà Nẵng, tác giả rút ra bài học về cắt giảm thời gian thẩm định dự án (nhóm A: 217 ngày, nhóm B: 232 ngày, nhóm C: 227 ngày), công khai số điện thoại đường dây nóng và áp dụng 3 cơ chế giải phóng mặt bằng linh hoạt. Từ Bình Định, khóa luận ghi nhận kinh nghiệm điều tiết vốn vào cuối quý 3 hàng năm để chuyển vốn sang dự án có khối lượng thanh toán, đồng thời kiên quyết ưu tiên vốn trả nợ đọng XDCB và dừng khởi công dự án dàn trải.

5. Những khâu nào trong quy trình quản lý vốn đầu tư công tại huyện Lý Sơn được chỉ ra là còn nhiều hạn chế nhất? Hai khâu bộc lộ nhiều hạn chế nhất là công tác đấu thầu (chưa thực sự đảm bảo tính công khai, cạnh tranh và minh bạch) và công tác thanh tra, kiểm tra (tiến hành chưa thường xuyên, số lượng dự án được thanh tra hàng năm quá ít so với tổng số dự án triển khai, làm giảm hiệu lực ngăn ngừa thất thoát nguồn vốn).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Mỹ Trường đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về chu trình quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước ở cấp huyện. Qua nguồn dữ liệu thực tế tại huyện đảo Lý Sơn giai đoạn 2019 – 2021, công trình đã làm sáng tỏ bức tranh phân bổ 450.219 triệu đồng vốn đầu tư cho 60 công trình hạ tầng, đồng thời chỉ rõ những điểm nghẽn trong công tác đấu thầu và thanh tra dự án. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn, giúp chính quyền huyện Lý Sơn nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn công phục vụ phát triển kinh tế biển đảo bền vững.