Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về văn hóa và tổng quan về huyện Hậu Lộc. Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Hậu Lộc. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Hậu Lộc. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ HUYỆN HẬU LỘC 1.
Cơ sở lý luận quản lý Nhà nước về văn hóa 1. Các quan niệm và khái niệm: Văn hóa, Quản lý, Quản lý nhà nước, Quản lý nhà nước về văn hóa 1. Văn hóa Trong đời sống giao tiếp xã hội và học thuật của nhân loại, văn hóa là khái niệm được dùng rất phổ biến, gắn với các hoạt động của con người, con người vừa là chủ thể, nhưng cũng là khách thể của văn hóa. Trong khoa học xã hội và nhân văn, văn hóa là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau.
Mỗi ngành khoa học xã hội, nhân văn lại có cách tiếp cận văn hóa riêng, vì thế văn hóa trở thành khái niệm vô cùng đa nghĩa. Theo thống kê chưa đầy đủ, cho đến nay đã có hàng ngàn định nghĩa văn hóa trong tài liệu phổ thông, hàn lâm đến môi trường truyền thông báo chí, Internet. Và nhân loại vẫn tiếp tục bổ sung, làm rõ nội hàm khái niệm văn hóa. Cuối Thế kỷ XX, Federico Mayor - Tổng Thư ký của UNESCO đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại.
Qua các Thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc” [29]. Quan niệm về văn hóa trên đây của UNESCO đã nhấn mạnh tới truyền thống, thị hiếu và bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc trong quá trình giao lưu và hội nhập hiện nay. Tuy nhiên, nhận thức lý luận về văn hóa của nhân loại vẫn tiếp tục phát triển. Bước sang thế kỷ XXI, năm 2002, UNESCO lại bổ sung định nghĩa về văn hóa như sau: “văn hóa nên được đề cập đến như là tập hợp của những đặc trưng tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội 11 hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.
Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [42]. Hồ Chí Minh nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [1].
Định nghĩa của Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu văn hóa cụ thể và đầy đủ hơn về khái niệm văn hóa. Như vậy, mọi hoạt động của con người trước hết đều “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống”, những hoạt động sống đó trải qua thực tiễn và thời gian được lặp đi, lặp lại thành những thói quen, tập quán, chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy, lưu truyền từ đời này qua đời khác thành kho tàng quý giá mang bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, góp lại mà thành di sản văn hóa của toàn nhân loại. Tuy văn hóa là khái niệm đa nghĩa nhưng vẫn có những điểm chung được đa số giới chuyên môn thừa nhận như sau: Về phương diện loài, văn hóa là sản phẩm đặc hữu chỉ có ở loài người, nó là cái dùng để phân biệt giữa con người và động vật. Về phương diện cá nhân, văn hóa là sức mạnh bản chất của con người, thể hiện trong hoạt động sống và phương thức sống của con người, thể hiện trong bản thân con người và tầm vóc phát triển của con người.
12 Về phương diện biểu hiện, văn hóa thông qua hệ thống biểu tượng mà truyền đạt trong xã hội, được con người bắt chước, học tập, làm theo chứ không phải di truyền theo con đường sinh học. Văn hóa dân tộc được lưu truyền hết sức tự nhiên thông qua ngôn ngữ và hành vi xã hội của con người từ thế hệ này sang thế hệ khác theo dòng chảy thời gian. Khi văn hóa xuất hiện với tư cách một hệ giá trị thì chính văn hóa lại tham gia sáng tạo nên phần người của con người, đồng thời duy trì trật tự xã hội cũng như kiến tạo sự phát triển. Về cơ bản, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, thể hiện trình độ của cộng đồng xã hội trong phát triển.
Tựu trung lại, nghĩa rộng nhất của văn hóa là toàn bộ tri thức, hiểu biết, quan niệm của nhân loại về thế giới khách quan (bao gồm tự nhiên, xã hội, con người). Theo nghĩa hẹp nhất, văn hóa là phong tục, hành vi, thói quen sinh hoạt của cá nhân con người và cộng đồng. Văn hóa là bản sắc, “mẫu gen” gốc của dân tộc, là tiêu chí đặc thù phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Có văn hóa tiên tiến, hiện đại và cũng có cả văn hóa truyền thống, xa xưa.
Trên thực tế, các yếu tố văn hóa này có thể đan xen tồn tại trong cùng không gian và thời gian của một cộng đồng xã hội. Như vậy, có thể thấy rằng: Nội hàm của khái niệm văn hóa luôn thay đổi, không cố định trong khuôn khổ một cách hiểu duy nhất, mà trong từng thời kỳ, có sự biến đổi, nối tiếp và phát triển mới. Tuy nhiên, với ý nghĩa chung nhất, văn hóa vẫn luôn mang hàm ý chỉ những giá trị tốt đẹp do con người sáng tạo ra. Quản lý và quản lý Nhà nước - Quản lý Theo từ điển Hán Việt “Quản lý là sự trông nom, coi sóc, quản thúc, bó buộc ai đó theo một khuôn mẫu, quy định, nguyên tắc, luật pháp đã đề ra” [33].
Quản lý là sự kết hợp ở các phương diện: 13 Một là, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân. Hai là, điều hòa quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa hai bên. Ba là, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được những việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân - giá trị tập thể. Như vậy, chỉ khi con người có nhu cầu kết hợp với nhau để thực hiện một nhiệm vụ hay mục đích ắt sẽ xuất hiện quản lý.
Cho đến nay, vẫn còn nhiều cách hiểu về khái niệm quản lý, có người cho quản lý là việc đạt tới mục tiêu thông qua hoạt động của những người khác; có tác giả lại coi quản lý như là một hoạt động thiết yếu bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt tới mục tiêu của nhóm… Nhưng các tác giả đều có quan điểm thống nhất cho rằng quản lý bao giờ cũng xuất hiện cùng nhu cầu của con người và gắn liền quá trình phân công, phối hợp với nhau trong lao động, sản xuất. Như vậy, quản lý chính là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định. - Quản lý nhà nước Quản lý Nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, khi Nhà nước ra đời thì xuất hiện vai trò quản lý của Nhà nước; quản lý Nhà nước được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan Nhà nước thực thi quyền lực Nhà nước. Ở nước ta, quyền lực Nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực thi ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Có thể hiểu: Quản lý Nhà nước chính là hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước do các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá 14 nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực Nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của Nhà nước. Quản lý Nhà nước về văn hóa Quản lý Nhà nước về hóa là thực hiện sự quản lý Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua hiến pháp, pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển, hội nhập của nền văn hóa dân tộc. Quản lý Nhà nước về văn hóa được nhận thức cụ thể như sau: Nhà nước quản lý văn hóa là thực hiện sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động văn hóa quốc gia bằng quyền lực của Nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển, hội nhập của nền văn hóa dân tộc. Nhà nước đảm bảo tổng thể hệ thống pháp lý phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, chuẩn mực quốc tế và thực tiễn xã hội Việt Nam hiện nay, tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào quá trình sáng tạo, xây dựng và phát triển văn hóa.
Về cơ bản, các nhiệm vụ quản lý Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa gồm: Một là, Xây dựng hệ thống pháp luật và và các chính sách nhằm tạo cơ sở pháp lý và môi trường lành mạnh cho quá trình sáng tạo, sản xuất, truyền bá, lưu giữ và tiếp nhận, thưởng thức các giá trị văn hóa; mở rộng các hoạt động giao lưu văn hóa quốc tế. Hai là, xây dựng và phát triển hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về văn hóa các cấp cũng như trong từng lĩnh vực, chuyên ngành, tạo sự thống nhất trên toàn quốc.