Tổng quan luận án
Vấn đề quản lý và sử dụng đất đai tại khu vực Tây Nguyên nói chung và tỉnh Kon Tum nói riêng có tính chất phức tạp, chịu sự chi phối của các yếu tố lịch sử, điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, văn hóa tộc người và quá trình thực thi các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước qua các thời kỳ. Kon Tum là tỉnh miền núi biên giới nằm ở phía bắc Tây Nguyên, giáp Lào và Campuchia, giữ vị trí địa chính trị quan trọng và là vùng địa sinh thái có tài nguyên rừng lớn. Đây cũng là không gian cư trú lâu đời của cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ (chiếm 50% dân số toàn tỉnh năm 2019). Đối với các cộng đồng này, đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất và nơi cư trú mà còn gắn liền với không gian sinh hoạt văn hóa và phong tục tập quán truyền thống.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tế: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề đất đai ở Tây Nguyên dưới góc độ văn hóa, dân tộc học hoặc kinh tế học với quy mô số liệu chung cho toàn vùng; rất ít công trình nghiên cứu chuyên biệt, chuyên sâu dưới góc độ lịch sử và liên ngành về thực trạng quản lý, sử dụng đất đai của từng nhóm dân tộc thiểu số tại chỗ ở cấp huyện, cấp xã tại tỉnh Kon Tum, đặc biệt trong giai đoạn thi hành Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 đến năm 2019.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý, sử dụng đất trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Kon Tum từ năm 2003 đến năm 2019, đánh giá những ưu điểm và hạn chế, từ đó đề xuất một số khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ theo hướng bền vững.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các chính sách đất đai của Nhà nước và tại tỉnh Kon Tum liên quan đến các dân tộc thiểu số tại chỗ từ năm 2003 đến năm 2019;
- Phân tích quá trình triển khai chính sách đất đai liên quan đến cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ và những mâu thuẫn, xung đột trong quá trình thực hiện các chính sách đó;
- Làm rõ thực trạng và những biến đổi, mâu thuẫn, xung đột trong sử dụng đất ở cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ;
- Đánh giá những thành tựu và hạn chế về quản lý, sử dụng đất trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ, từ đó đề xuất các khuyến nghị góp phần giải quyết vấn đề trên.
Đối tượng nghiên cứu
Quản lý, sử dụng đất trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ từ năm 2003 đến năm 2019.
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu tại 7 địa bàn thuộc 4 huyện (Sa Thầy, Ngọc Hồi, Đăk Glei, Kon Plong) và 1 thành phố (Kon Tum), đại diện cho 7 dân tộc thiểu số tại chỗ. Cụ thể gồm các xã: Ngọc Bay, Hơ Moong, Mô Rai, Đắk Dục, Bờ Y, Mường Hoong, Pờ Ê. Ngoài ra, tác giả mở rộng khảo sát bổ sung tại một số địa bàn thuộc thành phố Kon Tum gồm: thôn Kơ Năng (xã Ngọc Bay), thôn Phương Quý (xã Vinh Quang), thôn Thanh Trung (xã Hòa Bình), thôn Konrờ bàng (phường Nguyễn Trãi).
- Phạm vi thời gian: Trọng tâm từ năm 2003 (năm ban hành Luật Đất đai năm 2003 với nhiều quy định điều chỉnh phù hợp với cơ chế thị trường) đến năm 2019 (thời điểm thu thập dữ liệu điền dã và thống kê đầy đủ). Luận án cũng trình bày khái quát bối cảnh lịch sử từ thời kỳ cổ truyền đến trước năm 2003 để phục vụ việc so sánh, đối chiếu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo 3 nhóm chính:
1. Nghiên cứu về quản lý, sử dụng đất trên thế giới
- Nghiên cứu của Klaus Deininger và Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2003) phân tích vai trò của chính sách đất đai đối với tăng trưởng và giảm nghèo, khẳng định đất đai là tài sản chủ yếu của người nghèo (chiếm 50-60% tài sản hộ nghèo ở Uganda), đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền hưởng dụng (Property rights).
- Arun Agrawal & Elinor Ostrom (1999) phân tích cơ chế phân quyền (devolution) và quản lý rừng dựa vào cộng đồng (community-based forest management).
- Edella Schlager & Elinor Ostrom (1992) phân loại cấu trúc quyền tài sản đối với tài nguyên thiên nhiên thành 5 quyền: quyền tiếp cận, quyền khai thác, quyền quản lý, quyền loại trừ và quyền chuyển nhượng/cầm cố.
- Daniel W. Bromley (1991), John R. Commons (1968), Crawford B. Macpherson (1979), Monica Di Gregorio (2004), Ruth S. Meinzen-Dick & Rajendra Pradhan (2002) nghiên cứu về mối quan hệ giữa thể chế, luật tục và luật định trong thực thi quyền tài sản.
- The Munden Project (2017) tổng kết 51 trường hợp nghiên cứu tại Đông Nam Á về xung đột đất đai giữa doanh nghiệp và cộng đồng bản địa do không công nhận quyền lịch sử/tập quán. Báo cáo của FAO (2008) phân tích các bất cập trong quản trị đất đai và suy giảm độ che phủ rừng ở khu vực Đông Nam Á.
2. Nghiên cứu về quản lý, sử dụng đất ở Tây Nguyên - Việt Nam
- Dưới góc độ văn hóa - dân tộc học: Ngô Đức Thịnh & Võ Quang Trọng (2002) chỉ ra sự suy giảm cơ sở vật chất của tính cố kết buôn làng do chính sách đất đai; Đỗ Hồng Kỳ (2012) phân tích sự suy giảm diện tích rừng và biến đổi môi trường sinh thái tác động đến sinh kế; Ngô Đức Thịnh (2006) khảo cứu nghi lễ, phong tục và việc khai thác rừng; Lê Hồng Lý (2012) nghiên cứu sự chuyển biến lối sống và tri thức bản địa.
- Dưới góc độ kinh tế và quản lý: Nguyễn Thế Tràm (2001) đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp ở Tây Nguyên giai đoạn 1998-2000; Lưu Đức Hồng (1990) chỉ ra hạn chế của việc khai thác quảng canh và hiệu quả sử dụng đất thấp của các nông lâm trường quốc doanh; Đặng Văn Thắng (2006) và Nguyễn Văn Tùng (2006) phân tích bất cập trong quan hệ sở hữu đất đai và tác động của di dân; Vũ Tuấn Anh (2014) tổng kết tiến trình thay đổi thể chế quản lý đất đai từ năm 1986.
- Dưới góc độ giao đất giao rừng: Trần Ngọc Thanh (2005) phân tích sự sai biệt giữa quyền theo luật pháp và quyền theo luật tục trong chương trình giao đất giao rừng; Nguyễn Quang Tân (2005) nghiên cứu sự phân bổ lợi ích từ việc giao đất giao rừng tại Đắk Lắk; Tô Xuân Phúc & Trần Hữu Nghị (Tropenbos International Vietnam, 2014) chỉ ra tình trạng các công ty lâm nghiệp giữ phần lớn đất rừng nhưng hiệu quả quản lý hạn chế, dẫn đến việc người dân thiếu đất sản xuất.
- Dưới góc độ xã hội và chính sách: Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo & Vũ Thị Hồng (2000), Viện Dân tộc học (2005), Bùi Minh Đạo (2011) phản ánh thực trạng thiếu đất và mô hình quản lý áp đặt từ đồng bằng; Phạm Quang Hoan (2011) phân tích quan hệ tộc người; Đặng Nguyên Anh (2013) nghiên cứu tác động của gia tăng dân số và di cư; Phạm Hữu Nghị (2009) phân tích chính sách pháp luật đất đai từ năm 1975.
3. Nghiên cứu về người dân tộc thiểu số tại chỗ ở Kon Tum
- Các công trình thời kỳ thuộc Pháp: Pierre Dourisboure (1873) mô tả sở hữu cộng đồng và canh tác nương rẫy lúa của người Ba Na; Henri Maitre (1912, 1950) nghiên cứu phương thức hỏa canh và vai trò của "chúa đất" (người coi sóc ranh giới và thời vụ); Paul Guilleminet (1952) phân tích tập quán chiếm dụng và luân canh đất đai của người Ba Na.
- Các công trình thời kỳ 1954-1975: Nguyễn Trắc Dĩ (1970) khảo cứu ranh giới đất làng (Toring của người Ba Na, Cheam-Beng của người Xơ Đăng) và kỹ thuật làm rẫy của người Brâu, Giẻ-Triêng, Xơ Đăng, Ba Na; Thái Công Tụng (1971) và Đỗ Quang Giao (1974) phân tích đặc tính nông hóa, thổ nhưỡng Cao nguyên Trung phần.
- Công trình của học giả Việt Nam: Nguyễn Kinh Chi & Nguyễn Đổng Chi (1937) với công trình "Mọi Kon Tum" khảo sát địa lý, kinh tế và phong tục tập quán.
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án khắc phục khoảng trống về mặt địa bàn nghiên cứu chuyên biệt tỉnh Kon Tum dưới góc độ sử học và tiếp cận liên ngành. Luận án cập nhật dữ liệu thực tế giai đoạn 2003-2019, phân tích đồng thời 7 nhóm dân tộc thiểu số tại chỗ ở cấp thôn/xã, kết hợp phân tích đối chiếu giữa quyền theo luật định của Nhà nước với quyền theo tập quán truyền thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung khái niệm và lý thuyết
- Sở hữu đất đai: Tiếp cận định nghĩa của FAO (2002) về thể chế sở hữu đất đai là tập hợp các quy tắc xã hội điều chỉnh quyền tiếp cận, kiểm soát và chuyển nhượng tài nguyên; đồng thời đối chiếu với Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 của Việt Nam quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
- Quản lý đất đai: Dựa trên quan niệm của Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất (UN Earth Summit, 1992) về quản lý đất đai bền vững và Điều 22 Luật Đất đai năm 2013 về 15 nội dung quản lý nhà nước đối với đất đai.
- Sử dụng đất đai: Khái niệm của Daniel Muller (2006) và Vũ Tuấn Anh (2014) về sự biến đổi bề mặt vật lý, cơ cấu cây trồng và tác động của thị trường, chính sách đối với tài nguyên đất.
- Cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ: Căn cứ Từ điển tiếng Việt thông dụng (Hoàng Phê, 1998) và Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ. Luận án xác định 7 dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn Kon Tum gồm: Xơ Đăng, Ba Na, Gia Rai, Giẻ-Triêng, Brâu, Rơ Măm và Hrê.
Cách tiếp cận
- Tiếp cận lịch sử: Xem xét tiến trình thay đổi quản lý, sử dụng đất đai và tài nguyên rừng qua các thời kỳ lịch sử, làm rõ nguyên nhân bắt nguồn và sự biến chuyển thể chế.
- Tiếp cận liên ngành: Kết hợp phương diện lịch sử với kinh tế học, dân tộc học, luật học, chính trị học và xã hội học để đánh giá đa chiều quan hệ đất đai.
- Tiếp cận về quyền (Property rights): Phân tích sự tương tác, trùng lấn và mâu thuẫn giữa quyền theo luật định (pháp luật quốc gia) và quyền theo luật tục (tập quán bản địa).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử và logic: Trình bày các sự kiện, chính sách theo trình tự thời gian biên niên (trước và sau năm 2003), xâu chuỗi bản chất mối liên hệ giữa các chính sách với thực tiễn sử dụng đất.
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Quan sát không tham dự tại thực địa; thực hiện phỏng vấn sâu (PVS) cán bộ Ban Dân tộc, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chính quyền xã, già làng, trưởng thôn và các chủ hộ gia đình. Áp dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) tại 7 địa bàn đại diện.
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Khảo sát bảng hỏi cấu trúc trên mẫu gồm 350 hộ gia đình dân tộc thiểu số tại chỗ (ưu tiên phỏng vấn chủ hộ), phân bổ tại 7 thôn thuộc 7 xã (mỗi thôn khảo sát 50 phiếu). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS để tính toán các bảng tần số, giá trị trung bình, biểu đồ.
- Phương pháp chuyên gia, thống kê, phân tích - so sánh - tổng hợp.
| Nhóm phương pháp |
Kỹ thuật / Công cụ thực hiện |
Đối tượng / Quy mô thực tế |
| Định tính |
Quan sát không tham dự, phỏng vấn sâu (PVS) |
Cán bộ quản lý các cấp, già làng, trưởng thôn, người am hiểu tập quán |
| Định lượng |
Phiếu điều tra bảng hỏi, xử lý bằng phần mềm SPSS |
350 hộ gia đình (50 hộ/thôn x 7 thôn tại 7 xã đại diện cho 7 dân tộc) |
| Nghiên cứu văn bản |
Khai thác hồ sơ lưu trữ gốc và tư liệu thứ cấp |
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, cổng thông tin điện tử, báo cáo ngành |
Nguồn tư liệu
- Tư liệu sơ cấp: Thu thập qua các đợt điền dã thực địa trong 2 năm 2018 và 2019 tại các điểm nghiên cứu; bao gồm dữ liệu 350 phiếu điều tra, biên bản ghi chép quan sát, ghi âm, hình ảnh và tư liệu phỏng vấn sâu.
- Tư liệu thứ cấp: Khai thác hồ sơ lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh) qua các phông: Phông Bộ Phát triển Sắc tộc, Phông Hội đồng Các Sắc tộc, Phông Nha Tài nguyên Công sản, Phông Đệ nhất Cộng hòa, Phông Phủ Thủ tướng; các báo cáo định kỳ và tổng kết của UBND tỉnh Kon Tum, Ban Dân tộc, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; các văn bản quy phạm pháp luật và các công trình khoa học đã xuất bản.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, các khái niệm và giới thiệu điểm nghiên cứu
Chương này khái quát các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai, làm rõ cơ sở lý luận, hệ thống các khái niệm cốt lõi (sở hữu, quản lý, sử dụng đất, cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ) và phương pháp tiếp cận. Đồng thời, chương 1 trình bày đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Kon Tum và 7 địa bàn nghiên cứu đại diện.
Năm 2019, dân số tỉnh Kon Tum là 513.790 người, trong đó 7 dân tộc thiểu số tại chỗ chiếm 50% (256.799 người); người Kinh chiếm 46,7% (240.426 người); các dân tộc thiểu số phía Bắc chiếm 3,22% (16.566 người). Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2016-2019 đạt 14,5%, trong đó tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 47,4%.
| Địa bàn nghiên cứu (Xã/Thôn) |
Huyện / Thành phố |
Dân tộc thiểu số tại chỗ đại diện |
| Xã Ngọc Bay |
TP. Kon Tum |
Ba Na |
| Xã Hơ Moong |
Huyện Sa Thầy |
Gia Rai |
| Xã Mô Rai |
Huyện Sa Thầy |
Rơ Măm |
| Xã Đắk Dục |
Huyện Ngọc Hồi |
Giẻ-Triêng |
| Xã Bờ Y |
Huyện Ngọc Hồi |
Brâu |
| Xã Mường Hoong |
Huyện Đăk Glei |
Xơ Đăng |
| Xã Pờ Ê |
Huyện Kon Plong |
Hrê |
Chương 2: Vấn đề đất đai trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Kon Tum trước năm 2003
Chương 2 phục dựng tiến trình lịch sử về quản lý và sử dụng đất đai qua 4 giai đoạn:
- Thời kỳ trước thực dân Pháp xâm lược: Tồn tại chế độ sở hữu tập thể của làng buôn đối với toàn bộ đất đai và rừng trong ranh giới lãnh thổ làng (gọi là Toring ở người Ba Na, Cheam-Beng ở người Xơ Đăng). Quyền chiếm dụng cá nhân được xác lập qua việc khai phá và duy trì canh tác; có sự hiện diện của "chúa đất" đảm nhiệm vai trò phân định ranh giới và thời vụ. Phương thức canh tác chủ yếu là luân canh nương rẫy bằng kỹ thuật phát, đốt, chọc lỗ tra hạt.
- Thời kỳ thuộc Pháp: Chính quyền thực dân thiết lập quyền sở hữu tối cao của nhà nước bảo hộ lên đất đai, tách đất rừng ra khỏi quyền quản lý truyền thống của buôn làng để cấp nhượng địa lập đồn điền, làm thay đổi cấu trúc sở hữu tự nhiên.
- Thời kỳ 1954 - 1975: Chính quyền Việt Nam Cộng hòa thực hiện các chính sách dinh điền, khu trù mật, cải cách điền địa và thành lập Bộ Phát triển Sắc tộc, đưa dân cư từ đồng bằng lên Tây Nguyên, thu hẹp không gian cư trú và sản xuất truyền thống của cư dân bản địa.
- Thời kỳ từ năm 1975 đến năm 2003: Thực hiện chính sách quốc hữu hóa đất đai theo Hiến pháp năm 1980 (đất đai thuộc sở hữu toàn dân), đưa nông dân vào các Hợp tác xã (HTX) và Tập đoàn sản xuất (TĐSX), thành lập các nông lâm trường quốc doanh quản lý phần lớn quỹ đất rừng. Bên cạnh đó, các luồng di dân xây dựng vùng kinh tế mới và di dân tự do làm gia tăng nhanh dân số cơ học, dẫn đến việc đất canh tác truyền thống bị chia cắt và phát sinh tình trạng thiếu đất sản xuất ở các buôn làng.
Chương 3: Quá trình giao đất giao rừng và chính sách hỗ trợ đất đai với các dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Kon Tum từ năm 2003 đến năm 2019
Chương 3 phân tích cơ sở pháp lý và thực tiễn triển khai chính sách đất đai trong giai đoạn 2003-2019:
- Khung chính sách pháp luật: Phân tích các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Luật Đất đai năm 2013, Luật Lâm nghiệp năm 2017 cùng các Quyết định hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định 134/2004/QĐ-TTg, Quyết định 1592/QĐ-TTg, Quyết định 755/QĐ-TTg, Quyết định 2085/QĐ-TTg).
- Quá trình giao rừng và khoán bảo vệ rừng: Việc giao đất lâm nghiệp và khoán quản lý bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng dân cư thôn đã bước đầu tạo sinh kế thông qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Tuy nhiên, phần lớn diện tích rừng có trữ lượng và giá trị kinh tế vẫn do các Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp quản lý.
- Thực trạng thiếu đất và kết quả hỗ trợ: Quá trình triển khai chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất gặp khó khăn do quỹ đất sạch tại địa phương hạn hẹp. Việc thu hồi đất sử dụng kém hiệu quả từ các nông lâm trường để bàn giao lại cho địa phương cấp phát cho người dân đạt tiến độ chậm. Diện tích đất cấp mới ở một số nơi có địa hình dốc, cằn cỗi, thiếu nước tưới nên hiệu quả canh tác chưa cao.
Chương 4: Những biến đổi trong sử dụng đất của các dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Kon Tum từ năm 2003 đến năm 2019
Chương 4 chỉ ra những chuyển biến sâu sắc trong thực tiễn sản xuất và quan hệ đất đai:
- Biến đổi trong canh tác nông nghiệp: Diễn ra sự chuyển dịch từ phương thức làm nương rẫy luân canh tự cấp tự túc sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa định canh. Cơ cấu cây trồng thay đổi rõ rệt: giảm dần diện tích lúa rẫy truyền thống để chuyển sang trồng cây công nghiệp dài ngày (cao su, cà phê) và cây công nghiệp ngắn ngày, cây màu (bời lời, sắn mì, ngô lai). Người dân từng bước tiếp cận kỹ thuật bón phân vô cơ, sử dụng giống mới và cơ giới hóa khâu làm đất.
- Biến đổi trong khai thác và bảo vệ rừng: Tập quán khai thác tự do lâm sản, săn bắt thú rừng giảm dần; ý thức và trách nhiệm tham gia tuần tra, quản lý bảo vệ rừng theo nhóm hộ và cộng đồng thôn được nâng lên nhờ nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng.
- Các vấn đề phát sinh:
- Xuất hiện các tranh chấp đất đai giữa người dân tộc thiểu số tại chỗ với các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng, giữa người bản địa với người di cư tự do từ các tỉnh khác đến, và tranh chấp ranh giới nội bộ cộng đồng.
- Tình trạng cho vay nặng lãi, cầm cố đất đai và "bán non" sản phẩm nông nghiệp (bán lúa non, bán vườn cây khi chưa đến kỳ thu hoạch) dẫn đến việc một bộ phận hộ dân tộc thiểu số tại chỗ bị mất quyền sử dụng đất, tái diễn tình trạng thiếu đất sản xuất.
Chương 5: Đánh giá và khuyến nghị về quản lý, sử dụng đất trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Kon Tum
- Đánh giá tổng quát: Luận án tổng kết các thành tựu đạt được (tạo khung pháp lý bảo đảm quyền sử dụng đất, hỗ trợ ổn định chỗ ở, chuyển dịch cơ cấu cây trồng tăng thu nhập) và các hạn chế (chậm giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu đất, mâu thuẫn giữa luật tục và luật định chưa được điều hòa hoàn toàn, hiệu quả kinh tế trên diện tích đất được giao khoán chưa cao). Tác giả xây dựng ma trận SWOT phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tác quản lý, sử dụng đất tại địa bàn.
- Các khuyến nghị đề xuất:
- Về cơ chế, chính sách: Rà soát, kiên quyết thu hồi đất từ các công ty nông, lâm nghiệp sử dụng kém hiệu quả để giao lại cho người dân tộc thiểu số tại chỗ thiếu đất; tích hợp hợp lý một số quy ước, luật tục tiến bộ vào quy chế quản lý cộng đồng.
- Về hỗ trợ nguồn lực: Tăng cường vốn tín dụng chính sách ưu đãi, hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc, đầu tư hệ thống thủy lợi nhỏ.
- Về đảm bảo dân chủ: Thực hiện công khai, minh bạch quy hoạch đất đai, tăng cường tham vấn ý kiến người dân, già làng và trưởng thôn trong phân bổ đất và giải quyết tranh chấp.
- Về thông tin, tuyên truyền: Tăng cường phổ biến pháp luật đất đai, luật lâm nghiệp bằng các hình thức phù hợp với trình độ nhận thức và ngôn ngữ của đồng bào; ngăn chặn tình trạng sang nhượng, cầm cố đất trái phép.
- Về xây dựng mô hình: Nhân rộng các mô hình nông lâm kết hợp, hợp tác xã sản xuất theo chuỗi giá trị và mô hình quản lý rừng cộng đồng hiệu quả.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới của luận án
- Phục dựng bức tranh lịch sử toàn diện: Nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu tiến trình quản lý và sử dụng đất trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Kon Tum qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là giai đoạn 2003-2019 dưới góc độ sử học.
- Đánh giá có hệ thống về thể chế và sinh kế: Làm rõ sự biến chuyển từ sinh kế truyền thống, tri thức địa phương sang phương thức canh tác hàng hóa; phân tích so sánh chính sách đất đai qua các thời kỳ lịch sử (Pháp thuộc, Mỹ - Việt Nam Cộng hòa, sau 1975 và giai đoạn 2003-2019).
- Làm rõ sự điều chỉnh cơ chế, chính sách: Phân tích việc ban hành và thực thi các chính sách ưu tiên, hỗ trợ đất ở, đất sản xuất của Trung ương và tỉnh Kon Tum đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
- Nhận diện mâu thuẫn và biến đổi thực tiễn: Chỉ ra các mặt tích cực, hạn chế, nguyên nhân phát sinh tranh chấp đất đai, nạn cho vay nặng lãi và cầm cố quyền sử dụng đất trong cơ chế thị trường.
- Cung cấp luận cứ khoa học: Đề xuất 5 nhóm khuyến nghị khả thi, góp phần cung cấp nguồn tư liệu khoa học phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử địa phương và hoạch định chính sách dân tộc, phát triển bền vững tại Kon Tum.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn khung thời gian khảo sát thực tế đến năm 2019 nên chưa phản ánh được các biến động chính sách và tình hình thực tế sau năm 2019. Mẫu điều tra định lượng (350 hộ) tập trung tại 7 xã đại diện; do điều kiện địa hình chia cắt phức tạp, các đặc điểm cá biệt ở một số tiểu vùng xa xôi khác chưa được khảo sát bao quát toàn bộ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động của các luật mới sửa đổi bổ sung đối với sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ; mở rộng nghiên cứu thực nghiệm về các chuỗi liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp nông lâm nghiệp với hộ nông dân bản địa sau năm 2019.
Giá trị tham khảo
- Đối với công tác nghiên cứu và đào tạo: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử gốc (từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II) và dữ liệu điền dã thực chứng cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Dân tộc học, Văn hóa học, Xã hội học và Quản lý đất đai.
- Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Là tài liệu tham khảo thực tiễn cho Ban Dân tộc, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kon Tum cùng các tỉnh Tây Nguyên trong việc rà soát quy hoạch đất đai, xử lý tranh chấp và xây dựng chính sách an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án xác định mốc thời gian nghiên cứu trọng tâm từ năm 2003 đến năm 2019?
Năm 2003 là thời điểm Quốc hội ban hành Luật Đất đai năm 2003 với nhiều điều chỉnh phù hợp với cơ chế thị trường (mở rộng thời hạn giao đất nông nghiệp, quy định cụ thể về điều kiện giao/cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bồi thường tái định cư). Giai đoạn 2003-2019 cũng là thời kỳ Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chính sách hỗ trợ đất đai trọng điểm cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và công tác lưu trữ tại địa phương được thực hiện đầy đủ. Mốc 2019 là thời điểm hoàn thành thu thập dữ liệu điền dã và niên giám thống kê phục vụ việc đánh giá.
2. Luận án khảo sát thực địa tại những địa bàn nào và đại diện cho các dân tộc nào?
Luận án khảo sát 7 điểm nghiên cứu chính tại 4 huyện và 1 thành phố thuộc tỉnh Kon Tum: xã Ngọc Bay - TP. Kon Tum (dân tộc Ba Na), xã Hơ Moong - huyện Sa Thầy (dân tộc Gia Rai), xã Mô Rai - huyện Sa Thầy (dân tộc Rơ Măm), xã Đắk Dục - huyện Ngọc Hồi (dân tộc Giẻ-Triêng), xã Bờ Y - huyện Ngọc Hồi (dân tộc Brâu), xã Mường Hoong - huyện Đăk Glei (dân tộc Xơ Đăng), xã Pờ Ê - huyện Kon Plong (dân tộc Hrê). Ngoài ra có khảo sát bổ sung tại 4 thôn thuộc thành phố Kon Tum (thôn Kơ Năng, thôn Phương Quý, thôn Thanh Trung, thôn Konrờ bàng).
3. Tỷ lệ dân số các nhóm dân tộc tại tỉnh Kon Tum vào năm 2019 được ghi nhận như thế nào?
Theo số liệu Cục Thống kê tỉnh Kon Tum năm 2019, toàn tỉnh có 513.790 người. Trong đó, 7 dân tộc thiểu số tại chỗ có 256.799 người (chiếm 50,0%); người Kinh có 240.426 người (chiếm 46,7%); các dân tộc thiểu số di cư từ phía Bắc có 16.566 người (chiếm 3,22%).
4. Những vấn đề bất cập phát sinh nổi bật trong sử dụng đất ở đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ giai đoạn 2003-2019 là gì?
Các vấn đề nổi bật gồm: tranh chấp đất đai giữa người dân với các công ty nông lâm nghiệp/ban quản lý rừng và với dân di cư tự do; tình trạng thiếu đất sản xuất do quỹ đất cấp mới còn cằn cỗi hoặc chậm thu hồi từ nông lâm trường; nạn cho vay nặng lãi, cầm cố đất và bán non sản phẩm nông nghiệp dẫn đến nguy cơ mất đất sản xuất.
5. Phương pháp định lượng trong luận án được triển khai với quy mô mẫu ra sao?
Tác giả xây dựng bảng hỏi cấu trúc, tiến hành khảo sát trực tiếp 350 hộ gia đình dân tộc thiểu số tại chỗ (ưu tiên phỏng vấn chủ hộ) tại 7 thôn thuộc 7 xã điểm (mỗi thôn 50 hộ), sau đó làm sạch và xử lý dữ liệu thống kê bằng phần mềm SPSS trên máy tính.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Hồng Vân đã hệ thống hóa và phân tích quá trình quản lý, sử dụng đất trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Kon Tum giai đoạn 2003-2019 dưới góc độ lịch sử và tiếp cận liên ngành. Công trình đã làm rõ những chuyển biến từ tập quán canh tác truyền thống sang nông nghiệp hàng hóa, chỉ ra các kết quả đạt được cũng như các bất cập trong quá trình thực thi chính sách giao đất, giao rừng và hỗ trợ đất đai. Các phát hiện thực chứng và 5 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện chính sách đất đai và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững tại địa phương.