Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO QUẢN LÝ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ngày nay, thật khó có thể hình dung được thế giới chúng ta sẽ như thế nào nếu như không có các ứng dụng CNTT. Chúng ta đã biết ngành CNTT tuy còn non trẻ, nhưng có sự phát triển vô cùng mạnh mẽ và đã làm thay đổi toàn bộ cuộc sống, cách làm việc, cách tư duy của toàn thế giới.
Công nghệ thông tin đã và đang chi phối ở tất cả các mặt của cuộc sống và góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của các ngành trong đó có ngành Giáo dục và Đào tạo. Theo một số tài liệu nghiên cứu, trong giai đoạn hiện nay các nước đều khẳng định vai trò mũi nhọn, có tính đột phá của CNTT trong GD&ĐT nói chung và trong QL dạy và học nói riêng. Tác giả Christ Abbott đã nói rằng: “ICT is changing the face of education - CNTT và truyền thông đang thay đổi bộ mặt của Giáo dục” (Chris Abbott, 2001). Theo Saverius Kaka, hiệu trưởng trường SMA Tarsissius: Các nhà quản lý giáo dục cần phải khôn ngoan trong việc thực hiện các chiến lược để ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy và học tập.
Ông cho rằng: “Ngày nay CNTT đã và đang phát triển rất nhanh chóng; vì thế toàn bộ hệ thống giáo dục cần được cải cách và CNTT nên được tích hợp vào các hoạt động giáo dục” (Saverius Kaka, 1997). Tác giả David Mousund, thuộc bộ phận quản lý và chính sách đào tạo trường đại học Oregon Australia, khi nghiên cứu về thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT trong giáo dục, đã đưa ra nhận xét: “Lĩnh vực CNTT đang thay đổi nhanh chóng đến mức nó vượt quá khả năng cập nhật của đa số nhà lãnh đạo khiến họ ngần ngại” (David Mousund). Điều đó có nghĩa là một trong những trở ngại Luan van 8 lớn của việc ứng dụng CNTT là kiến thức về CNTT của các nhà quản lý giáo dục thường đi sau sự phát triển. Thêm vào đó John Mcbeath and Kate Myer cũng khẳng định: “Những tư tưởng chủ đạo cơ bản về việc sử dụng CNTT trong giáo dục tuy đã thay đổi nhưng thay đổi rất chậm” (John Mcbeath and Kate Myer, 1999).
Đây có thể coi là hệ quả của chính sự ngần ngại của các nhà lãnh đạo khi ứng dụng CNTT. Xã hội thông tin đã tạo ra những cơ hội mới, nhưng cũng đặt ra những thách thức, yêu cầu mới đối với CBQL và GV. Nếu CBQL và GV đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu mới thì vị thế của CBQL và GV được nâng cao hơn. Everard Geofrey Morris Ian Wilson trong bài “Quản lý sự thay đổi” đã viết “Bước đột phá chính trong việc nâng cao năng lực của các nhà QL để QL sự thay đổi bắt nguồn từ các lý thuyết và cách tiếp cận của khoa học hành vi được gọi là “phát triển tổ chức”, viết tắt “OD – Organization Development” (K.
Everard Geofrey Morris Ian Wilson, 2009). Một trong những yêu cầu mới, đó là CBQL và GV phải biết ứng dụng CNTT vào trong các hoạt động QL và dạy học. Trong dạy học, GV sẽ là người hướng dẫn, định hướng, tổ chức việc thu thập và xử lý thông tin của HS. Do đó, ngoài trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm, GV còn phải có kiến thức và kỹ năng về CNTT để sử dụng trong quá trình dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
Trong QL, người CBQL phải có kiến thức và kỹ năng về CNTT để ứng dụng trong việc thực hiện các nhiệm vụ QL, giúp quá trình QL đạt được mục tiêu đã đặt ra. Tác giả Andrew Jones thuộc British Educational Communications and Technology Agency (Beca), có đề tài: A Review Of The Research Literature On Barriers To The Uptake Of ICT By Teachers (Một đánh giá về tổng quan nghiên cứu vào các rào cản về sự tiếp thu CNTT của giáo viên). Đề tài này tập hợp các bằng chứng từ nhiều nguồn về những rào cản thực tế và nhận thức của các giáo viên ảnh hưởng đến việc ứng dụng CNTT. Các rào cản chủ Luan van 9 yếu là: Sự thiếu tự tin và lo lắng của giáo viên về máy tính; Thiếu năng lực về CNTT; Thiếu thời gian; Thiếu phương pháp sư phạm trong việc ứng dụng CNTT; Thiếu kỹ năng; Thiếu nguồn lực về CNTT; Công tác QL, tổ chức yếu kém; Chưa có phần mềm phù hợp; Không có điều kiện truy cập Internet riêng ở nhà… Trên thế giới, việc nghiên cứu ứng dụng CNTT vào quản lý nói chung và quản lý trong các nhà trường được tiến hành rất sớm, đặc biệt là ở các nước có trình độ CNTT tiên tiến như Mỹ, Australia, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…Ở các nước này, việc sử dụng CNTT trong quản lý như một công cụ không thể thiếu và là điều tất yếu.
Ở đó ngay từ cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, quản lý nhà trường bằng CNTT đã nhận được sự ủng hộ và chính sách trợ giúp của Chính phủ. Có những trường đã xây dựng và vận hành thành công mô hình trường học điện tử. Từ thập niên 90 của thế kỷ trước, vấn đề ứng dụng CNTT vào quản lý là một chủ đề lớn được UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI. Ngoài ra, UNESCO còn dự báo: CNTT sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản vào đầu thế kỷ XXI.
Tóm lại, qua nghiên cứu các tài liệu ở nước ngoài, các tác giả đã có những công trình nghiên cứu rất cụ thể, rất khoa học việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động dạy, hoạt động học và ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục là chủ yếu. Các đề tài nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTT ở trường THPT vẫn là quá ít so với những yêu cầu của công tác quản lý ứng dụng CNTT hiện nay ở các trường THPT. Các nghiên cứu trong nước Trong giai đoạn đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay, yêu cầu đổi mới công tác QL là việc làm cần thiết và cấp bách. Các nhà sư phạm nước ta như Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thanh Phong, Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Trần Kiều, Trần Kiểm, Nguyễn Phúc Châu, Phan Thế Sủng, Nguyễn Quốc Chí đã Luan van 10 có nhiều công trình nghiên cứu về QLGD.
Trong đó, các tác giả đã đề cập đến các vấn đề như: vai trò của người hiệu trưởng trong công tác QL trường học; biện pháp nâng cao hiệu quả công tác QL của hiệu trưởng. Tổ chức Hợp tác Phát triển và Hỗ trợ Kĩ thuật vùng Flamăng, Vương quốc Bỉ (VVOB Việt Nam) phối hợp với các chuyên gia và nhóm cán bộ nòng cốt thuộc 5 tỉnh tham gia dự án phát triển cuốn tài liệu “ Ứng dụng CNTT trong quản lý nhà trường” (Tổ chức Hợp tác phát triển và Hỗ trợ kỹ thuật vùng Flammăng, 2013), nhằm cung cấp thêm một số công cụ cụ thể, giúp việc ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục trở nên hiệu quả hơn. Trong các nhà trường phổ thông, công tác quản lý là hoạt động trọng tâm của hiệu trưởng. Chính vì vậy cũng có rất nhiều CBQL trường THPT trong cả nước tập trung nghiên cứu về các biện pháp quản lý nhà trường, trong đó có giải pháp ứng dụng CNTT trong quản lý.
Dù nghiên cứu mang tính khái quát hay chỉ đề cập đến một khía cạnh nào đó trong quản lý cũng có giá trị về lý luận và thực tiễn, giúp cho các hiệu trưởng trường THPT khác tham khảo để vận dụng trong công tác quản lý của mình. Phát triển ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đề cập đến. Tuy nhiên, các nghiên cứu thường đề cập chung đến việc ứng dụng CNTT trong giáo dục. Nhiều luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục đã đề cập đến vấn đề phát triển ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý dạy học.
Bên cạnh đó có một số Luận văn, luận án đã đề cập đến ứng dụng CNTT trong quản lý nhà trường phổ thông như: luận án Tiến sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục của tác giả: Nguyễn Thanh Giang với đề tài: “Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin ở trường trung học phổ thông vùng Đông Nam Bộ, Việt Nam” (Nguyễn Thanh Giang, 2015); luận văn Thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục của các tác giả: Trần Lê Duy Khiên với đề tài: “Thực trạng quản lý việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở một số trường THPT tại thành phố Cần Luan van 11 Thơ” (Trần Lê Duy Khiêm, 2010), Phan Tấn Lộc với đề tài “Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin ở các trường trung học cơ sở, thành phố cao lãnh tỉnh Đồng Tháp” (Phan Tấn Lộc, 2012), Vũ Anh Tuấn với đề tài: “Một số biện pháp ứng dụng CNTT trong công tác quản lý ở các trường THPT quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh” (Vũ Anh Tuấn, 2012). Một số bài báo, hội thảo chuyên đề về ứng dụng CNTT như: Bài báo đăng trên website ictnew.vn của tác giả Vân Anh với chủ đề “Năm 2020: 90% trường phổ thông thường xuyên ứng dụng CNTT trong quản lý” (Vân Anh, 2017), Nhà giáo ưu tú Trần Văn Hòa - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Thanh Hóa với bài viết “Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý nhà trường tại Thanh Hóa” (Trần Văn Hòa, 2018), Sở GD&ĐT Sóc Trăng tổ chức hội thảo với chuyên đề “Ứng dụng CNTT trong quản lý, dạy học và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tin học” (Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sóc Trăng, 2018). Tuy nhiên, việc “Quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong quản lý” hiện nay ở hầu hết các trường THPT nói chung và các trường THPT thành phố Sóc Trăng nói riêng còn tồn tại nhiều bất cập, chưa có nghiên cứu thỏa đáng. Bên cạnh sự quan tâm của các cấp quản lý, các nhà khoa học đối với việc đưa ứng dụng CNTT vào dạy học và quản lý trong các nhà trường thì các doanh nghiệp đã đầu tư nghiên cứu xây dựng các phần mềm hỗ trợ QL như: Dự án hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục thuộc Ủy ban châu Âu (Support to the Renovation of Education Management – gọi tắt SREM) với các sản phẩm phần mềm Pmis, Emis, Vemis… Từ năm học 2010-2011 tập đoàn viễn thông quân đội Viettel triển khai phần mềm SMAS, tập đoàn bưu chính viễn thông VNPT triển khai phần mềm VnEdu đến các trường THPT.