Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VỀ TRẬT TỰ XÂY DỰNG 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Khái niệm chính sách công Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của chủ thể nắm quyền lực công, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững ổn định. Khái niệm thực hiện chính sách công Tổ chức thực hiện chính sách công là một khâu hợp thành chu trình chính sách, là toàn bộ quả trình chuyên hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng.
Khái niệm về quản lý trật tự xây dựng a) Khái niệm về trật tự xây dựng Theo Từ điển Từ và Ngữ Hán – Việt thì trật tự được hiểu là: “Tình trạng ổn định, có thứ bậc trên dưới, trước sau …”. Trật tự là trạng thái phát triển có sự sắp xếp theo một thứ tự nhất định của các bộ phận để cấu thành chỉnh thể, trong đó các bộ phận đều vận động theo những nguyên tắc, các quy định mà nó cần phải tuân thủ. Trạng thái xây dựng có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạm nhất định mà mọi người phải tuân theo. Từ đó có thể hiểu trật tự xây dựng là trạng thái được hình thành dựa trên sự thực thi pháp luật về xây dựng trong thực tiễn của chủ thể nhằm duy trì sự ổn định về trật tự xây dựng.
Do đó, khi pháp luật phù hợp với xu thế phát triển và các chủ thể tự nguyện thực hiện theo đúng pháp luật thì trạng thái trong xây dựng được hình thành. Ngược lại, khi pháp luật không phản ánh đúng xu thế phát triển hay các chủ thể không tuân theo pháp luật thì không thể có trật tự xây dựng [6]. 7 Luan van b) Khái niệm về quản lý trật tự xây dựng Quản lý trật tự xây dựng hiện được quy định chi tiết tại Điều 56 của Nghị định số 15/2021/NĐ- CP. Theo quy định tại điều luật này thì việc quản lý trật tự xây dựng phải được thực hiện từ khi tiếp nhận thông báo khởi công, khởi công xây dựng công trình cho đến khi công trình bàn giao đưa vào sử dụng (Khoản 1 Điều 56).
Việc quy định này yêu cầu các cơ quan nhà nước phải có sự giám sát việc thực hiện các hoạt động xây dựng ngay từ ban đầu, kịp thời phát hiện những sai phạm ngay từ ban đầu để giải quyết, tránh các trường hợp đã thực hiện xong, thực hiện phần lớn công trình mới tìm thấy sai phạm, khi đó gây hậu quả rất lớn [6]. Về nội dung nội dung về quản lý trật tự xây dựng thì: Như ở mục trên đã viết, việc quản lý trật tự xây dựng được thực hiện thông qua Giấy phép xây dựng, nên đối với công trình được cấp giấy phép xây dựng thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc quản lý dựa trên các nội dung của giấy phép xây dựng đã được cấp cho chủ dự án xây dựng và dựa trên quy định của pháp luật có liên quan như pháp luật đất đai, pháp luật xây dựng,… Khi cấp Giấy phép xây dựng, các cơ quan nhà nước đã tiến hành các hoạt động kiểm tra, xem xét việc tuân thủ pháp luật của dự án, nên khi quản lý trật tự xây dựng, thì các cơ quan căn cứ và những nội dung chi tiết đã được phê duyệt đó để cấp Giấy phép xây dựng [6]. Có rất nhiều công trình được miễn cấp Giấy phép trật tự xây dựng, thì nội dung quản lý trật tự xây dựng đối với các công trình này gồm: kiểm tra công trình có đáp ứng các điều kiện về cấp giấy phép xây dựng như đối với công trình cần cấp giấy phép xây dựng; kiểm tra sự tuân thủ của việc xây dựng với quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành hoặc quy chế quản lý kiến trúc hoặc thiết kế đô thị được phê duyệt và quy định của pháp luật có liên quan; kiểm tra sự phù hợp của việc xây dựng 8 Luan van với các nội dung, thông số chủ yếu của thiết kế đã được thẩm định đối với trường hợp thiết kế xây dựng đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định (điểm b, khoản 2 Điều 56) [6]. Như vậy, đối với các công trình được miễn cấp giấy phép xây dựng, thì các nội dung quản lý trật tự xây dựng vẫn đủ các nội dung cơ bản như về điều kiện thực hiện các hoạt động xây dựng, điều kiện về tuân thủ quy hoạch, đảm bảo các điều kiện về thiết kế,….
Trong quá trình xây dựng, mà cơ quan quản lý trật tự xây dựng phát hiện dự án xây dựng có hành vi vi phạm, thì các cơ quan này phải yêu cầu dừng thi công công trình, tiến hành xử lý vi phạm theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý vi phạm trật tự xây dựng theo quy định pháp luật [6]. Cơ quan có thẩm quyền quản lý trật tự xây dựng đó chính là Ủy ban nhân dân các cấp. Theo đó thì Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm về quản lý trật tự xây dựng đối với các công trình xây dựng trên địa bàn theo phân cấp, hoặc theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Các cơ quan này trực tiếp thực hiện các hoạt động theo dõi, kiểm tra các công trình xây dựng, từ đó phát hiện, ngăn chặn, xử lý các vi phạm.
Các cơ quan này cũng có quyền cưỡng chế đối với các công trình có những vi phạm trật tự xây dựng theo thẩm quyền [6]. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về quản lý trật tự xây dựng các công trình xây dựng trên địa bàn, đồng thời, dựa trên các đặc thù của tỉnh mà Ủy ban nhân dân tỉnh quy định chi tiết về quản lý trật tự xây dựng, đảm bảo áp dụng thống nhất trên toàn tỉnh và đảm bảo tuân thủ pháp luật. Ủy ban nhân dân tỉnh phân cấp, ủy quyền quản lý trật tự xây dựng cho Ủy ban nhân dân cấp dưới. Đồng thời, cơ quan này cũng tiến hành tiếp nhận thông báo khởi công kèm theo hồ sơ thiết kế xây dựng của công trình đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng thông báo kết quả thẩm định thiết kế xây dựng [6].
9 Luan van Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh còn ban hành quy chế quản lý kiến trúc hoặc thiết kế đô thị cho từng khu vực trong phạm vi tỉnh để các cơ quan cấp dưới dùng những quy chế đó để làm cơ sở cấp giấy phép xây dựng và quản lý trật tự xây dựng đối với khu vực chưa có quy hoạch chi tiết. Ủy ban nhân tỉnh tiến hành chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã liên tục theo dõi, kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời khi phát sinh vi phạm trên địa bàn; hoặc tiến hành cưỡng chế công trình vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn trong các trường hợp luật định [6]. Lý luận liên quan đến việc thực hiện chính sách 1. Mục đích, yêu cầu của thực hiện chính sách công 1.
Mục đích thực hiện chính sách công Mục đích của thực hiện chính sách công là thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng, chứ không đơn giản chỉ là dừng lại ở việc giải quyết vấn đề thực hiện chính sách công. Yêu cầu của thực hiện chính sách công a) Yêu cầu thực hiện mục tiêu: Thực hiện chính sách là những hoạt động cụ thể của các cơ quan quản lý Nhà nước và các đối tượng chính sách nhằm đặt được những mục tiêu trực tiếp đã đề ra; tổng hợp hết quả thực hiện mục tiêu của các chương trình, dự án và các hoạt động thực hiện khác thành mục tiêu chung của chính sách. Nhà nước phải xác định mục tiêu của từng chính sách thật cụ thể, rõ ràng và chuẩn xác khi muốn thực hiện thành công các chính sách. Bên cạnh đó, các cơ quan chuyên môn phải triển khai thực hiện và chuyển mục tiêu chính sách thành chương trình và kế hoạch cụ thể.
b) Yêu cầu đảm bảo tính hệ thống: Tổ chức thực hiện chính sách là một bộ phận cấu thành của chu trình chính sách, kết hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong chu trình chính sách, 10 Luan van kết hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong chu trình tạo nên một hệ thống thống nhất. Vì vậy phải đảm bảo tính hệ thống trong mỗi quá trình. c) Yêu cầu phải bảo đảm lợi ích cho các đối tượng thụ hưởng: Các nhóm lợi ích luôn tồn tại trong xã hội, tập hợp các cá nhân tổ chức chia sẻ những lợi ích nhất định, biến động theo không gian và thời gian. Các nhóm lợi ích có vai trò xung đột trong xã hội.
Do đó, các nhóm lợi ích sẽ được hưởng thụ khác nhau tùy theo tính chất của mỗi chế độ xã hội. Chính sách là công cụ để Nhà nước bảo vệ và chuyển lợi ích đến các đối tượng thụ hưởng trong xã hội. Để công cụ này phát huy tác dụng, cần phải có sự hường ứng thực hiện một cách tự giác trên cơ sở lòng tin của dân chúng vào chính sách của Nhà nước. Quy trình thực hiện chính sách công 1.
Bước 1 - Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công - Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách, đây là bước cần thiết và quan trọng vì tổ chức thực thi chính sách là quá trình phức tạp, lại diễn ra trong thời gian dài do đó phải có kế hoạch. - Kế hoạch này phải được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống, các cơ quan triển khai từ Trung ương đến địa phương đều phải lập kế hoạch bao gồm các bước sau: + Kế hoạch về tổ chức, điều hành như hệ thống các cơ quan tham gia, đội ngũ nhân sự, cơ chế thực thi; + Kế hoạch cung cấp nguồn vật lực như tài chính, trang thiết bị; + Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện; + Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách; + Dự kiến về quy chế, nội dung về tổ chức và điều hành thực thi chính sách; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách công; về trách nhiệm, nhiệm vụ và quyền hạn của cán 11 Luan van bộ, công chức và các cơ quan quản lý nhà nước tham gia: Tổ chức điều hành chính sách.