Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN MNEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.1 Khái niệm Nghiên cứu về khái niệm quản lí có rất nhiều quan niệm khác nhau. Các quan niệm này phản ánh những khía cạnh, chức năng cơ bản của quá trình quản lí. Song, về cơ bản, các quan niệm đều khẳng định chủ thể, nội dung, phương thức và mục đích của quá trình quản lí.
Từ các quan niệm của nhiều tác giả, có thể khái quát như sau: Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) nhằm bảo đảm cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể QL Điều kiện tạo ra quản lí là phải có ít nhất một chủ thể quản lí là các tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất có một đối tượng bị quản lí tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lí tạo ra. Ngoài ra, môi trường quản lí còn có nhiều khách thể khác chịu các tác động khác của chủ thể quản lí. Tác động quản lí có thể là một hoạt động đơn giản, trong một thời gian ngắn mà cũng có thể là liên tục nhiều hoạt động phức tạp trong thời gian dài; phải có mục tiêu một quỹ đạo hoạt động đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể. Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động; phải thực hành việc tác động một cách phù hợp với những đặc điểm, điều kiện và hoàn cảnh của khách thể quản lí.
Các Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó”[7,tr. Theo Trung tâm Từ điển - Ngôn ngữ - Việt Ngôn ngữ "Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [32,tr. 12 Theo Phan Văn Kha:“Quản lí là qúa trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các hệ thống nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định” [21,tr. Ở góc độ Tâm lí học, “Quản lí là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó [11,tr.
Theo nghĩa rộng, quản lí là hoạt động có mục đích của con người, quản lí chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của người khác nhằm đạt được kết quả mong muốn. Như vậy, khi bàn về quản lý các tác giả đều có quan điểm thống nhất chung: Quản lý là một hoạt động có chủ đích, là sự tác động liên tục của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý về nhiều mặt bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc và các phương pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xác định. Chức năng quản lí Chức năng quản lí là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lí, nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hóa của hoạt động quản lí. Nó là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lí phải thực hiện để đạt mục tiêu đề ra.
Có nhiều cách phân chia các chức năng quản lí, song về cơ bản đều thống nhất có 4 chức năng : kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra [29,tr.1: Chức năng của quản lý 13 a/ Lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu thực hiện và xác định hoạt động nào cần thực hiện để hoàn thành mục tiêu. Thông qua lập kế hoạch để xác định kết quả mong muốn và chỉ ra các phương tiện để đạt được kết quả. b/ Tổ chức là quá trình phân chia nhiệm vụ, phân bổ nguồn lực, sắp xếp và phối hợp các hoạt động của cá nhân và nhóm để thực hiện các kế hoạch. Thông qua tổ chức, các kế hoạch biến thành các hoạt động bởi nó việc xác định các công việc và người thực hiện, khuyến khích và ủng hộ mọi người làm việc với công nghệ và các nguồn lực khác.
c/ Chỉ đạo là quá trình khêu gợi lòng nhiệt tình của mọi người làm việc chăm chỉ để hoàn thành các kế hoạch và các mục tiêu đã đề ra. Thông qua chỉ đạo sẽ xây dựng được sự cam kết, khuyến khích các hoạt động để hoàn thành mục tiêu và ảnh hưởng tới người khác cùng nhau làm việc tốt nhất. d/ Kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản lý, quản lý mà không kiểm tra thì coi như không có quản lý. Nhờ có hoạt động kiểm tra mà người quản lý đánh giá được kết quả công việc, uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những hạn chế từ đó có biện pháp phù hợp điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo.
Như vậy, chức năng quản lí là một trong những vấn đề cơ bản của lí luận quản lí, nó giữ vai trò to lớn trong thực tiễn quản lí. Chức năng quản lí và chu trình quản lí thực hiện đầy đủ nội dung hoạt động của chủ thể quản lí với khách thể quản lí. Chính vì vậy, việc thực hiện đầy đủ các giai đoạn quản lí trong một chu trình quản lí là cơ sở đảm bảo cho toàn bộ hệ thống quản lí đạt hiệu quả. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1.
Quản lý giáo dục Theo tác giả Phạm Khắc Chương, “Quản lí giáo dục, theo nghĩa rộng nhất là quản lí quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người trong các chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Tác giả Trần Kiểm, Nguyễn Xuân Thức đã nêu “Quản lí giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, tập thể trẻ MN, cha mẹ trẻ MN và 14 các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”[23,tr. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch thích hợp với chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến đến trạng thái mới về chất" [29,tr. Cũng có thể định nghĩa quản lí giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lí nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, … một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mực tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
Như vậy, thực chất của quản lý giáo dục là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến hoạt động của tập thể giáo viên và hoạt động của trẻ MN nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong việc hình thành nhân cách của trẻ MN 1. Quản lý nhà trường Quản lý nhà trường là một bộ phận trong quản lý giáo dục. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng, trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ, với từng trẻ MN" [19,tr. Quản lý nhà trường thường phải giải quyết 2 lĩnh vực: quản lý bên trong và quản lý bên ngoài.
Quản lý bên trong có liên quan đến vấn đề như: quản lý hành chính, quản lý thư viện, các nguồn lực (nhân lực, vật lực); quản lý bên ngoài liên quan đến các mối quan hệ với cộng đồng và các cơ quan quản lý. Ngoài ra, quản lý nhà trường thường được thực hiện thông qua 3 lĩnh vực: Quản lý quá trình dạy và học, quản lý nhân sự và quản lý tổ chức. Như vậy quản lý nhà trường nói chung và trường Mầm non nói riêng là quản lý toàn diện, mọi nguồn lực, trong đó đội ngũ giáo viên là nguồn lực quan trọng nhất, mang tính quyết định trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường [9,tr. Tổ chuyên môn và sinh hoạt chuyên môn 1.
Tổ chuyên môn ở trường Mầm non * Tổ chuyên môn Theo Quyết định 41/2010/QĐ-BGDĐT ngày 30/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ trường Mầm non, thì ở Điều 18 có xác định rõ về Tổ chuyên môn: 1. Tổ chuyên môn bao gồm giáo viên, viên chức làm công tác thư viện, thiết bị giáo dục. Mỗi tổ có ít nhất 3 thành viên. Tổ chuyên môn có tổ trưởng, nếu có từ 7 thành viên trở lên thì có một tổ phó.
Nhiệm vụ của tổ chuyên môn: a) Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm học nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và hoạt động giáo dục; b) Thực hiện bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả giảng dạy, giáo dục và quản lí sử dụng sách, thiết bị của các thành viên trong tổ theo kế hoạch của nhà trường; c) Tham gia đánh giá, xếp loại giáo viên theo quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Mầm non và giới thiệu tổ trưởng, tổ phó. Tổ chuyên môn sinh hoạt định kì hai tuần một lần và các sinh hoạt khác khi có nhu cầu công việc. * Chức năng của tổ chuyên môn: - Tổ chuyên môn là nơi trực tiếp triển khai các mặt hoạt động của nhà trường, trong đó trọng tâm là hoạt động giáo dục và dạy học. Trong đó sinh hoạt tổ chuyên môn là bàn bạc, trao đổi, thảo luận, thống nhất về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức các vấn đề về chuyên môn như hoạt động dạy, hoạt động giáo dục khác nhằm giáo dục toàn diện trẻ MN.