Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận - thực tiễn thiết yếu về thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế thu nhập cá nhân Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn huyện Hoài Đức Chương 4: Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn huyện Hoài Đức 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN THIẾT YẾU VÀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài Thuế thu nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng đã đƣợc áp dụng từ lâu trên thế giới và có lịch sử hàng trăm năm. Thuế TNCN đƣợc áp dụng lần đầu tiên ở Anh năm 1799 dƣới hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và đƣợc chính thức ban hành vào năm 1842. Sau đó, thuế TNCN đƣợc lan truyền nhanh chóng sang các nƣớc công nghiệp khác nhƣ: Nhật Bản (năm 1887), Mỹ (năm 1913), Pháp (năm 1914)… Các nƣớc Châu Á nhƣ Thái Lan bắt đầu áp dụng vào năm 1939, ở Philippin năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, Inđônêsia năm 1949, Trung Quốc năm 1984. Đến nay, đã có khoảng 180 nƣớc áp dụng thuế TNCN và thuế TNCN đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thuế của nhiều nƣớc.
Các quốc gia có nền kinh tế thị trƣờng phát triển đều coi thuế TNCN là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối theo nguyên tắc công bằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Tuy nhiên, đặt ra mức thuế cao hay thấp, đánh vào tổng thu nhập hay đánh vào từng khoản thu nhập khác nhau của chủ thể thƣờng phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong chính sách kinh tế, xã hội của từng nƣớc ở từng thời kỳ nhất định. Ở các nƣớc phát triển, thuế TNCN thƣờng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu từ thuế (Thuế TNCN chiếm tỷ trọng gần 40% trong tổng thu thuế Ngân sách Liên bang Mỹ, Tây Ban Nha 38%, Anh 35%, Đan Mạch 50%) và đƣợc xem là một loại thuế rất quan trọng, thƣờng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu thuế, là công cụ 4 đảm bảo tính công bằng, tính hiệu quả kinh tế và hội nhập (PGS. Đỗ Đức Minh, “Chƣơng 2 - Thuế TNCN của một số nƣớc trên thế giới và kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam”, Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội, 2002, trang 45-106).2 Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, trong thời kỳ áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nƣớc ta không thu thuế đối với thu nhập của cá nhân không kinh doanh.
Bởi vì, nguồn thu nhập của cƣ dân trong xã hội thời kỳ đó mang tính chất thuần nhất, do cơ chế phân phối bình quân theo kế hoạch trực tiếp của Nhà nƣớc. Khi thực hiện đƣờng lối đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chế độ phân phối thu nhập theo cơ chế thị trƣờng hình thành và phát triển, thu nhập của ngƣời dân đƣợc cải thiện. Bên cạnh đó, sự phân hóa thu nhập và phân cực giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cƣ trong xã hội diễn ra rất nhanh. Để động viên một phần thu nhập của một bộ phận dân cƣ có thu nhập cao hơn so với mức thu nhập chung của cộng đồng vào NSNN và thực hiện chính sách điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cƣ trong xã hội, ngày 27/12/1990 Hội đồng Nhà nƣớc ban hành Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao, Pháp lệnh này đƣợc áp dụng trên thực tế kể từ ngày 1/4/1991.
Qua quá trình tổ chức thực hiện, Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao đƣợc Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung nhiều lần vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 1999. Ngày 19/5/2001, Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao để thay thế cho tất cả các Pháp lệnh về thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao đã ban hành trƣớc đó. Ngày 24/3/2004 Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao năm 2001. Ngày 21/11/2007, Quốc hội ban hành Luật 5 Thuế TNCN và luật này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, thay thế cho Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao trƣớc đây.
Đồng thời việc quản lý thuế TNCN cũng đƣợc thực hiện theo cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế theo QĐ 197/2003/QĐ - TTg và triển khai sâu rộng chƣơng trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế. Dƣới nhiều góc độ khác nhau đã có nhiều công trình và đề tài nghiên cứu về lĩnh vực thuế trong thời gian qua, điển hình nhƣ: Nhóm các công trình về hoàn thiện chính sách, công tác quản lý thuế: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay" do PGS.TS Nguyễn Thị Bất làm chủ nhiệm; “Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế ở Việt Nam trong quá trình đổi mới”, luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, của Trịnh Hoàng Cơ, Hà Nội, 2004; “Tăng cường quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam”, luận văn thạc sĩ kinh tế của Đặng Thị Lan Hƣơng, Hà Nội, năm 2013;“Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế Thu nhập cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội”, luận văn thạc sĩ kinh tế của Trần Hải Nam, Hà Nội, năm 2013; “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế Tại Cục Thuế Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Hoàng Hải Yến, Hà Nội, năm 2013;. Ở các công trình nêu trên, các tác giả đã phân tích thực trạng công tác quản lý thuế và chỉ ra đƣợc các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách và công tác quản lý thuế ở Việt Nam những năm gần đây phù hợp với chiến lƣợc cải cách ngành thuế theo hƣớng hiện đại hóa. Trong đó một số tác giả đã đề xuất và luận chứng khá chi tiết các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế trong quá trình đổi mới.
“Quản lý và điều hành công tác thuế trong bối cảnh suy giảm kinh tế 6 trong nước và suy thoái kinh tế toàn cầu”, tác giả Đặng Hạnh Thu, Tạp chí Cộng Sản số 803, 2009. Tác giả đã đặt ra những vấn đề cần phải quan tâm trong công tác quản lý và điều hành công tác thuế trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu đã có những ảnh hƣởng trực tiếp đến Việt Nam khi chúng ta đã tham gia vào WTO. Nhóm các công trình về hoàn thiện, nâng cao năng lực trong công tác thuế: “Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ở nước ta hiện nay”, luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý của Vũ Thị Mai, Hà Nội, 2005; “Hoàn thiện quy trình quản lý thu thuế theo hướng hiện đại hoá ngành Thuế ở Việt Nam”, luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thu Thuỷ, Hà Nội, 2006; “Cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế và những vấn đề đặt ra ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Việt Cƣờng, Nxb Tài chính, Hà Nội, 2007; “Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế ở Việt Nam”, luận văn thạc sĩ kinh tế của Lê Thị Thu Hồng, 2008;. Trong các công trình nói trên tác giả đã đề cập đến thực trạng các quy trình và công tác quản lý thuế; đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt các quy trình quản lý thuế trong từng lĩnh vực và địa bàn cụ thể.
Nhóm công trình nghiên cứu về chính sách thuế TNCN: “Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam” - Lê Văn Ái, Đỗ Đức Minh, Đỗ Thị Thìn; “Thuế TNCN: Kinh nghiệm trên thế giới và việc triển khai thực hiện tại Việt Nam”, Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2009, số 143, tr 10-13, Tạp chí Kinh tế và Phát triển; “Thuế TNCN: Quá khứ - hiện tại và tương lai”, Phạm Quang, 2009, số 140, tr 25-26 - Tạp chí kinh tế và phát triển. Các ấn phẩm đã khái quát một số vấn đề cơ bản về quá trình hình thành, việc thực hiện thuế TNCN trong cả chặng đƣờng từ lúc hình thành cho đến hiện tại và cả những dự báo cho tƣơng lai sắp tới ; đồng thời đã tổng hợp 7 những kinh nghiệm thực hiện Luật Thuế TNCN ở một số nƣớc trên thế giới, và việc triển khai thực hiện ở Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp để việc triển khai thuế TNCN đƣợc tốt hơn trong thời gian tới. “Thuế TNCN ở Việt Nam và định hướng hoàn thiện”, Vũ Văn Trƣờng , trƣờng ĐH Tài chính kế toán Hà Nội ; “Những vấn đề cơ bản về thuế TNCN”; Luận án tiến sỹ kinh tế - Lý Phƣơng Duyên - Học Viện Tài chính. Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu của các sinh viên, học viên về lĩnh vực này: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế TNCN; Chính sách thuế TNCN ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; Thuế TNCN: lý luận và thực tiễn; Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN; So sánh Luật thuế TNCN với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao, … Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đây đã cho chúng ta hiểu đƣợc thế nào là thuế TNCN, sự cần thiết phải áp dụng luật thuế TNCN vào đời sống.
Đồng thời qua các công trình nghiên cứu này, chúng ta có cái nhìn tổng quát về quá trình hình thành, những chuyển biến, thay đổi và thực tiễn áp dụng Luật thuế TNCN ở Việt Nam, những thành tựu đạt đƣợc và những vƣớng mắc còn tồn tại. Mặc dù những nội dung này rất phong phú nhƣng vẫn là chƣa đủ để có thể hiểu một cách thấu đáo nội dung thuế TNCN đứng trên giác độ của nhà quản lý thuế. Thuế TNCN vốn là một vấn đề phức tạp, khó áp dụng. Vậy làm cách nào để cho nhà quản lý có thể hiểu và quản lý tốt nếu công tác trong lĩnh vực thuế TNCN, nhất là trong thời kỳ thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp - Ngƣời nộp thuế (NNT) tự kê khai, tự tính thuế và tự nộp thuế vào NSNN.