Tổng quan nghiên cứu

Công tác quản lý nguồn thu từ đất đai giữ vai trò trụ cột trong việc điều tiết ngân sách và phân bổ nguồn lực tái đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật tại địa phương. Kể từ khi Luật Thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp số 48/2010/QH12 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 thay thế Pháp lệnh Thuế nhà, đất năm 1992, chính sách thuế này đã mở rộng phạm vi điều chỉnh đến toàn bộ các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất phi nông nghiệp trên phạm vi cả nước. Tại tỉnh Kiên Giang – địa bàn có tổng diện tích tự nhiên 6.269 km² với 15 đơn vị hành chính cấp huyện và 105 hòn đảo lớn nhỏ – việc triển khai sắc thuế mới đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức đặc thù.

Mặc dù tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang tăng trưởng liên tục từ 2.953 tỷ đồng năm 2012 lên 7.712 tỷ đồng năm 2016, số thu từ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp lại có xu hướng biến động phức tạp và chỉ đạt 91,3% so với dự toán giao vào năm 2016. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa quy mô quản lý đối tượng người nộp thuế rất lớn với hiệu suất thu thực tế còn khiêm tốn do địa bàn chia cắt và chính sách miễn giảm diện rộng.

Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng tổ chức quản lý thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2012 - 2016, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi giúp hoàn thiện cơ chế điều tiết tài khóa, đảm bảo tỷ lệ động viên nguồn thu 100% để lại cho ngân sách địa phương phục vụ mục tiêu an sinh xã hội và phát triển hạ tầng bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý tài chính công hiện đại và lý thuyết phân cấp tài khóa làm nền tảng phân tích vai trò của chính quyền địa phương trong việc tổ chức quản lý các nguồn thu gắn liền với bất động sản. Theo các công trình kinh điển về cải cách hành chính thuế ở các quốc gia đang phát triển của Bird và Jantscher (1992) cùng nghiên cứu phân cấp tài khóa của Martinez-Vazquez và cộng sự (2006), quản lý thu thuế hiệu quả đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa cơ chế quản lý rủi ro và mức độ tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế.

Mô hình nghiên cứu làm rõ ba khái niệm cốt lõi:

  • Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: Loại thuế trực thu tính trên diện tích đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp của tổ chức, cá nhân.
  • Căn cứ tính thuế: Tích số giữa diện tích đất tính thuế và giá của 1m² đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành, được áp dụng ổn định theo chu kỳ 5 năm.
  • Thuế suất lũy tiến từng phần đối với đất ở: Bao gồm bậc 1 áp dụng mức 0,03% cho diện tích trong hạn mức, bậc 2 áp dụng 0,07% cho phần diện tích vượt không quá 3 lần hạn mức, và bậc 3 áp dụng 0,15% cho phần vượt trên 3 lần hạn mức. Riêng đất lấn chiếm áp dụng mức thuế suất 0,2% và không áp dụng hạn mức.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp các phương pháp định lượng và định tính:

  • Cỡ mẫu và nguồn dữ liệu: Luận văn khảo sát toàn diện hệ thống quản lý thu gồm Văn phòng Cục Thuế tỉnh Kiên Giang với 12 phòng chức năng và 15 Chi cục Thuế trực thuộc, thu thập chuỗi dữ liệu thứ cấp từ 794 cán bộ, công chức toàn ngành cùng số liệu quản lý hàng trăm nghìn thửa đất trong giai đoạn 2012 - 2016.
  • Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ kết hợp phân tầng theo địa bàn đại diện, chia thành khu vực đô thị phát triển như thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên; khu vực hải đảo trọng điểm như huyện Phú Quốc, Kiên Hải; và các huyện đồng bằng thuần nông, vùng sâu vùng xa.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian đối với số liệu thu ngân sách qua từng năm, phương pháp đánh giá thực trạng tuân thủ và tổng hợp báo cáo chuyên đề. Lý do lựa chọn các phương pháp này nhằm định lượng chính xác sai lệch giữa dự toán và thực thu, đồng thời bóc tách nguyên nhân quản lý từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh một cách khách quan, khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực trạng quản lý thu thuế tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2012 - 2016 cho thấy những kết quả và tồn tại nổi bật sau:

Thứ nhất, quy mô tổng thu ngân sách toàn tỉnh có sự bứt phá mạnh mẽ nhưng cơ cấu thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp lại thiếu ổn định. Tổng thu ngân sách nhà nước tăng từ 2.953 tỷ đồng năm 2012 lên 3.574 tỷ đồng năm 2013 (tăng 21%), đạt 5.180 tỷ đồng năm 2015 (tăng 44,5%) và chạm mốc 7.712 tỷ đồng năm 2016 (đạt 122,2% dự toán). Tuy nhiên, riêng số thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2016 chỉ đạt 91,3% dự toán và sụt giảm còn 68,9% so với cùng kỳ năm 2015, nằm trong nhóm 5/17 sắc thuế không hoàn thành chỉ tiêu.

Thứ hai, chính sách miễn giảm thuế tác động rất lớn đến kết quả thu do đặc thù địa bàn. Toàn tỉnh Kiên Giang có tới 13/15 huyện thuộc địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên phần lớn diện tích đất ở trong hạn mức của hộ gia đình, cá nhân đều được miễn thuế 100%. Chỉ riêng thành phố Rạch Giá và thị xã Hà Tiên áp dụng mức giảm 50% đối với đất ở trong hạn mức. Thêm vào đó, việc áp dụng quy định không thu đối với các trường hợp có số thuế phát sinh từ 50.000 đồng trở xuống đã làm giảm đáng kể số thu thực tế tại các địa phương này.

Thứ ba, áp lực quản lý bộ máy rất lớn trong khi nguồn lực thực thi còn phân tán. Đội ngũ công chức toàn ngành thuế tỉnh gồm 794 người (trong đó trình độ đại học chiếm 78%, thạc sĩ chiếm 0,9%, cao đẳng và trung cấp chiếm 21%), phải quản lý địa bàn rộng lớn với 145 xã, phường, thị trấn. Riêng đội thuế liên xã, phường có 105 công chức trực tiếp phụ trách việc chấm bộ, phát thông báo và đôn đốc thu nộp, tạo nên gánh nặng hành chính rất lớn so với tỷ trọng nguồn thu mang lại.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên cho thấy công tác lập dự toán thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tại tỉnh Kiên Giang chưa thực sự bám sát thực tiễn biến động đất đai và các chính sách miễn giảm mới ban hành. Chi phí hành chính mà ngân sách phải bỏ ra để điều tra, in ấn tờ khai, phát thông báo và thu nộp tại các vùng hải đảo hiểm trở như huyện Kiên Hải hay 43 hòn đảo có dân sinh sống đôi khi vượt quá số tiền thuế thu được.

Khi đối chiếu với các địa phương khác, luận văn nhận thấy những điểm tương đồng và khác biệt rõ nét:

  • Cục Thuế tỉnh An Giang giải quyết bài toán sai lệch thông tin địa chính bằng cách cử cán bộ xuống trực tiếp từng ấp, tổ tự quản để đối soát, giúp thu đạt 4 tỷ đồng và hoàn thành 100% dự toán năm 2013.
  • Cục Thuế thành phố Cần Thơ giai đoạn 2012 - 2013 thu trên 49 tỷ đồng nhờ làm tốt công tác phối hợp cung cấp dữ liệu địa chính với Sở Tài nguyên và Môi trường; riêng quận Ninh Kiều quản lý 40.066 người nộp thuế và thu vượt 120% chỉ tiêu.
  • Cục Thuế tỉnh Thái Bình hoàn tất nhập liệu 516.106 tờ khai vào ứng dụng quản lý và giải quyết miễn giảm đúng quy định cho 195.613 hộ gia đình với số tiền trên 4 tỷ đồng.

Các dữ liệu phân tích này có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện mức độ hoàn thành dự toán thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp giai đoạn 2012 - 2016 so với tổng thu ngân sách toàn tỉnh, kết hợp với bảng phân tích cơ cấu công chức theo vị trí việc làm để phản ánh trực diện sự mất cân đối giữa chi phí quản trị và số thu đạt được.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn tiếp theo, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và số hóa dữ liệu địa chính: Cục Thuế tỉnh Kiên Giang cần chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung về thông tin thửa đất, diện tích trong và ngoài hạn mức, vị trí và chủ sở hữu. Mục tiêu hoàn thành tích hợp dữ liệu quản lý thuế với cơ sở dữ liệu đất đai đạt 100% trên toàn bộ 15 huyện, thị xã, thành phố trước quý IV năm 2018.

  2. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác lập dự toán thu: Phòng Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán phối hợp chặt chẽ với Chi cục Thuế các địa phương khảo sát chi tiết diện tích đất biến động, các trường hợp chuyển mục đích sử dụng và các đối tượng thuộc diện miễn giảm thuế. Phấn đấu nâng độ chính xác của dự toán thu thuế đất hàng năm đạt mức sai số dưới 5% so với số thực thu từ năm 2018.

  3. Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ chuyên trách: Phòng Tổ chức cán bộ xây dựng kế hoạch bồi dưỡng định kỳ kỹ năng quản lý thuế và tin học ứng dụng cho 105 công chức thuộc Đội thuế liên xã, phường. Đặt mục tiêu 100% cán bộ làm công tác thu thuế đất được chuẩn hóa nghiệp vụ kiểm tra, xác định vị trí thửa đất và nâng tỷ lệ cán bộ có trình độ sau đại học lên mức trên 2% trong giai đoạn 2018 - 2020.

  4. Cải cách quy trình thu nộp và tăng cường phối hợp liên ngành: Chi cục Thuế các huyện, thị xã, thành phố chủ động ủy nhiệm thu qua mạng lưới Bưu điện và các Ngân hàng thương mại tại các xã vùng sâu, hải đảo; đồng thời triển khai đồng bộ biên lai thu thuế điện tử. Mục tiêu giảm thiểu 40% thời gian luân chuyển chứng từ và đảm bảo 100% tiền thuế thu được chuyển nộp vào Kho bạc Nhà nước trong vòng 24 giờ kể từ khi phát sinh nghĩa vụ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thiết thực đối với 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý thuế các cấp: Cục Thuế và các Chi cục Thuế tại các tỉnh có địa bàn phức tạp, nhiều hải đảo có thể khai thác mô hình tổ chức bộ máy, quy trình lập bộ thuế và kinh nghiệm kiểm soát chống thất thu từ các thửa đất biến động hoặc chuyển mục đích sử dụng.
  • Cơ quan tài nguyên và môi trường địa phương: Cán bộ địa chính cấp xã, huyện có thể sử dụng các phân tích về sự sai lệch giữa thông tin địa chính và hồ sơ kê khai thuế để hoàn thiện quy trình trao đổi dữ liệu một cửa liên thông.
  • Học viên, nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý công và Kinh tế tài chính: Đề tài cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh cùng nguồn dữ liệu thực chứng tin cậy về sắc thuế sử dụng đất phi nông nghiệp để phục vụ các công trình nghiên cứu mở rộng về tài chính bất động sản.
  • Lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp: Cung cấp cơ sở khoa học để ban hành bảng giá đất 5 năm, định mức hạn mức đất ở và phê duyệt dự toán ngân sách hàng năm sát với nguồn thu thực tế của địa phương.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm khác biệt căn bản giữa Luật Thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 và Pháp lệnh Thuế nhà, đất năm 1992 là gì? Luật Thuế năm 2010 áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần đối với đất ở gồm 3 bậc từ 0,03% đến 0,15% dựa trên hạn mức diện tích, thay thế cách tính cũ cào bằng. Đồng thời, luật mới chuyển hẳn sang cơ chế tự khai, tự nộp dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro và tăng cường kiểm soát diện tích đất vượt hạn mức nhằm hạn chế đầu cơ.

  2. Tại sao nguồn thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2016 tại Kiên Giang chỉ đạt 91,3% dự toán? Nguyên nhân chủ yếu do thị xã Hà Tiên được công nhận là địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Nghị định 118/2015/NĐ-CP dẫn đến phát sinh miễn giảm diện rộng. Ngoài ra, chính sách không thu đối với các khoản thuế từ 50.000 đồng trở xuống đã làm giảm nguồn thu trực tiếp từ hàng chục nghìn hộ dân.

  3. Đất lấn, chiếm hoặc sử dụng sai mục đích bị xử lý thuế suất như thế nào theo quy định hiện hành? Đất sử dụng sai mục đích hoặc chưa sử dụng theo đúng quy định áp dụng mức thuế suất 0,15%. Đất lấn, chiếm chịu mức thuế suất cao nhất là 0,2% trên toàn bộ diện tích mà không được áp dụng hạn mức đất ở. Việc nộp thuế này không phải là căn cứ pháp lý để công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.

  4. Yếu tố địa lý ảnh hưởng như thế nào đến công tác quản lý thu thuế tại Kiên Giang? Tỉnh Kiên Giang có 105 hòn đảo với 43 đảo có cư dân sinh sống, địa hình chia cắt bởi mạng lưới kênh rạch chằng chịt khiến chi phí đi lại của 105 công chức thuế liên xã rất lớn. Khó khăn trong tiếp cận thực địa làm chậm tiến độ phát tờ khai, kiểm tra hiện trạng đất và thu hồi tiền thuế đúng hạn.

  5. Bài học lớn nhất mà Cục Thuế Kiên Giang có thể tiếp thu từ các địa phương như Cần Thơ và Thái Bình là gì? Kiên Giang cần tập trung vào việc sớm hoàn thiện nhập liệu 100% tờ khai vào phần mềm quản lý tập trung như Thái Bình đã cấp mã cho 516.106 hồ sơ, đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp chia sẻ dữ liệu địa chính chặt chẽ với ngành Tài nguyên và Môi trường như mô hình Cần Thơ đã triển khai.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học và pháp lý về quản lý thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp trong bối cảnh đổi mới chính sách tài chính công tại Việt Nam.
  • Phản ánh trung thực bức tranh quản lý thu thuế tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2012 - 2016, chỉ rõ nguyên nhân số thu năm 2016 chỉ đạt 91,3% dự toán dù tổng thu ngân sách tăng trưởng vượt bậc 122,2%.
  • Đánh giá sâu sắc tác động của các chính sách miễn giảm thuế đối với 13/15 huyện nghèo và đề xuất 4 nhóm giải pháp có tính ứng dụng cao về công nghệ, nhân sự, dự toán và phối hợp liên ngành.
  • Kế hoạch triển khai tiếp theo cần tập trung hoàn thành đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu đất đai và áp dụng biên lai thu thuế điện tử trên phạm vi toàn tỉnh trong giai đoạn 2018 - 2020.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp cận toàn văn công trình để ứng dụng các mô hình dự báo và quy trình quản trị thuế hiệu quả vào thực tiễn quản lý địa bàn.