đặt vấn đề điều tiết tiêu dùng. + Hàng hoá, dịch vụ thuộc các hoạt động được ưu đãi vì mục tiêu xã hội, nhân đạo, không mang tính chất kinh doanh. + Các hàng hoá, dịch vụ của một số ngành cần khuyến khích + Hàng hoá nhập khẩu nhưng thực chất không phục vụ cho tiêu dùng tại Việt Nam. + Một số loại hàng hoá, dịch vụ khó xác định giá trị tăng thêm như dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư.
+ Một số dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hàng hoá xuất khẩu; vận tải quốc tế; hàng hoá, dịch vụ cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế. + Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu hàng năm từ một trăm triệu đồng trở xuống. + Vũ khí khí tài phục vụ cho an ninh quốc phòng; hàng dự trữ quốc gia được cơ quan dự trữ quốc gia bán ra; Các hoạt động thu phí lệ phí của Nhà nước theo pháp luật về phí và lệ phí. * Các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT: + Hàng hoá, dịch vụ được người nộp thuế tại Việt Nam cung cấp ở ngoài Việt Nam + Các khoản thu về bồi thường, tiền thưởng, tiền hỗ trợ nhận được, tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác.
+ Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 15 + Tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế GTGT thì không phải kê khai, tính thuế giá trị gia tăng khi bán tài sản. + Tài sản cố định đang sử dụng, đã thực hiện trích khấu hao khi điều chuyển theo giá trị ghi trên sổ sách kế toán giữa cơ sở kinh doanh và các đơn vị thành viên do một cơ sở kinh doanh sở hữu 100% vốn. + Các trường hợp khác: Cơ sở kinh doanh không phải kê khai, nộp thuế trong các trường hợp sau: Góp vốn bằng tài sản để thành lập doanh nghiệp; Điều chuyển tài sản giữa các đơn vị hạch toán phụ thuộc trong doanh nghiệp; Thu đòi người thứ 3 của hoạt động bảo hiểm.
* Người nộp thuế GTGT: Theo quy định tại Điều 4 luật thuế GTGT thì người nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là người nhập khẩu). Căn cứ tính thuế GTGT Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất: * Giá tính thuế: Giá tính thuế là một căn cứ quan trọng để xác định số thuế GTGT phải nộp. Giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hóa đơn bán hàng của người bán hàng, người cung cấp dịch vụ hoặc giá chưa có thuế GTGT được ghi trên chứng từ của hàng hoá nhập khẩu. * Thời điểm xác định thuế GTGT:Là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hoá cho người mua, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
Thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng của hoạt động kinh doanh cụ thể được quy định phù hợp tùy vào đặc thù của hoạt động đó. * Thuế suất: Luật thuế GTGT quy định 3 mức thuế suất. Việc quy định các mức thuế suất khác nhau thể hiện chính sách điều tiết thu nhập Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 16 và hướng dẫn tiêu dùng đối với hàng hoá dịch vụ. Các mức thuế suất cụ thể đang được thực hiện như sau: - Thuế suất 0%: Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế và hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 5 của Luật này.
- Thuế suất 5%: Là mức thuế suất áp dụng đối với các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phục vụ cho sản xuất, giáo dục thuộc đối tượng khuyến khích phát triển. - Thuế suất 10%: Áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ trừ hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế và chịu thuế suất 0% và 5%, chủ yếu là những hàng hóa, dịch vụ thông thường trong đời sống xã hội, nguyên vật liệu, thiết bị mấy móc phục vụ SXKD. Phương pháp tính thuế GTGT Tính thuế GTGT có 2 phương pháp: Phương pháp khấu trừ và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT. - Phương pháp khấu trừ thuế: Đối tượng áp dụng là các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệpthành lập theo luật Doanh nghiệp Nhà nước (trước đây), Luật Doanhnghiệp, luật Hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị tổ chức kinh doanh; Xác định số thuế phải nộp bằng thuế GTGT đầu ra trừ thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.
- Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT: Đối tượng áp dụng là cá nhân, hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật và Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không theo Luật Đầu tư; Số thuế phải nộp bằng giá trị gia tăng của hàng hóa dịch vụ nhân thuế xuất thuế GTGT của hàng hóa dịch vụ đó. Khai thuế, nộp thuế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 17 - Khai thuế: Là việc NNT khai thuế GTGT căn cứ giá trị, thuế của hàng hóa. dịch vụ mua vào, bán ra theo mẫu tờ khai quy định và nộp cho cơ quan thuế. * Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế: Được quy định cụ thể đối với từng loại hồ sơ khai thuế: Khai thuế GTGT theo tháng; Theo phương pháp trực tiếp; Tạm tính; theo từng lần phát sinh và khai thuế bổ sung.
Hoàn thuế GTGT Hoàn thuế GTGT là việc Nhà nước trả lại cho Người nộp thuế mua hàng hoá dịch vụ về sử dụng số tiền thuế đầu vào đã trả khi mua hàng hoá dịch vụ mà người nộp thuế còn chưa được khấu trừ trong kỳ tính thuế. - Đối tượng và trường hợp được hoàn thuế GTGT: Theo quy định được chia thành các trường hợp, cụ thể: Hoàn 3 tháng liên tục; hoàn do đầu tư dự án; Hoàn do xuất khẩu; Hoàn do nộp thừa; Hoàn do sử dụng vốn ODA không hoàn lại. hoàn do được ưu đãi miễn trừ ngoại giao. - Điều kiện và thủ tục hoàn thuế GTGT: Các cơ sở kinh doanh, tổ chức thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT phải là cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ, đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép đầu tư có số thuế GTGT còn được khấu trừ hoặc nộp thừa.
Nội dung cơ sở thực tiễn công tác quản lý thuế GTGT 1. Sự cần thiết của công tác quản lý thuế GTGT Một quốc gia ra đời và phát triển dòi hỏi phải có nhiều nguồn lực, trong đó nguồn lực tài chính là quan trọng và là nền tảng để phát triển. Để có được nguồn tài chính mạnh, Nhà nước có thể huy động bằng nhiều cách như: in tiền, phát hành trái phiếu, vay nợ trong và ngoài nước, thu thuế. Tuy nhiên, các hình thức như in tiền hay đi vay không thể sử dụng lâu dài và có thể ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, chỉ có hình thức thu thuế là hợp lý và lâu bền nhất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 18 Công tác quản lý thuế GTGT là hoạt động của cơ quan thuế nhằm mục đích chủ yếu là đảm bảo nguồn thu thuế GTGT cho ngân sách Nhà nước, góp phần phát huy tốt hơn vai trò của luật thuế GTGT. Do điều kiện kinh tế xã hội khác nhau nên thuế GTGT được áp dụng ở các quốc gia cũng có những đặc điểm khác nhau, vì vậy công tác quản lý thuế GTGT ở mỗi nước có những đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện của nước đó. Ngay cả công tác quản lý thuế GTGT trong mỗi quốc gia ở các cấp khác nhau cũng có sự khác nhau tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi bộ phận, mỗi cấp. Ở Việt Nam, công tác quản lý thu thuế GTGT được thực hiện cụ thể chủ yếu ở hai cấp là Cục thuế và Chi cục thuế.
Cục thuế quản lý NNT là các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp NQD có quy mô và vốn kinh doanh lớn, còn Chi cục thuế quản lý đối với NNT là các doanh nghiệp NQD có quy mô, vốn kinh doanh nhỏ và các hộ, cá nhân kinh doanh. Công tác quản lý thuế GTGT ở cấp Cục thuế và Chi cục thuế bao gồm các nội dung: Đăng ký thuế và cấp mã số thuế; Quản lý hoá đơn, chứng từ; Xử lý tờ khai và chứng từ nộp thuế; Hoàn thuế và kiểm tra, thanh tra sau hoàn thuế; Quyết toán thuế và kiểm tra quyết toán thuế; Xử lý miễn, giảm thuế; Quản lý hồ sơ doanh nghiệp.; Điều tra doanh số ổn định thuế (đối với các hộ ổn định thuế tại Chi cục). Trong công tác quản lý thuế GTGT, Cục thuế phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan như: Kho bạc, Hải quan, Quản lý thị trường, Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Sở kế hoạch đầu tư. để đảm bảo quản lý triệt để và phát triển nguồn thu.
Mô hình tổ chức quản lý thuế Hiện nay hệ thống tổ chức quản lý thu thuế của nước ta được tổ chức như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 19 - Ở Trung ương có Tổng cục thuế thuộc Bộ Tài Chính: thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các khoản thu nội địa, bao gồm thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác thuộc Ngân sách nhà nước và Tổng cục hải quan thực hiện chức năng quản lý thu đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. - Ở các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương có các Cục thuế, các Cục thuế chịu sự chỉ đạo của Tổng cục thuế và UBND cùng cấp. - Ở cấp quận, huyện, thành phố trực thuộc tỉnh có các chi cục thuế, các Chi cục thuế chịu sự chỉ đạo của Cục thuế và UBND cùng cấp. Để thực hiện Luật quản lý thuế, hiện nay ngành thuế đã chuyển đổi cơ cấu theo mô hình quản lý theo chức năng.