Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1. Lý luận về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hộ kinh doanh 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng Thuế thuế giá trị gia tăng (viết tắt GTGT, viết tắt tên tiếng Anh là VAT - Value Added Tax hoặc TVA - Taxe sur la Valeur Ajoutée)1 là loại thuế gián thu đánh vào hoạt động tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ. Xét về mặt bản chất thì thuế GTGT chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến người tiêu dùng.
Về tổng quát thì tổng số thuế phát sinh, thu được ở mỗi khâu chính bằng với số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy, người tiêu dùng cuối cùng sẽ là người chịu thuế. Trong khi đó, nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ, cơ sở sản xuất kinh doanh là người nộp thuế (NNT) vào ngân sách nhà nước thay cho người tiêu dùng thông qua việc cộng thuế vào giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán khi mua hàng hoá hoặc sử dụng dịch vụ. Ở Việt Nam, thuế GTGT chính thức được thiết lập bởi Luật thuế GTGT do Quốc hội Khoá IX thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành kể từ 01/01/1999, thay thế cho Luật thuế doanh thu.
Việc ban hành luật thuế GTGT thay cho luật thuế doanh thu là một trong những bước cải cách quan trọng trong hệ thống chính sách thuế của nước ta. Trong quá trình thực thi, Luật thuế GTGT đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần2 với mục đích đáp ứng yêu cầu trong thực tiễn thu thuế và quản lý thuế. Từ đó, góp phần tháo gỡ kịp thời những khó khăn và vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng trên thực tế. Luật thuế GTGT đã nêu cụ thể khái niệm thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
1 Theo Báo cáo tại Hội nghị toàn cầu về thuế GTGT tổ chức tại Italia năm 2005: “Một trong những thành tựu lớn nhất về cải cách thuế trong thế kỷ XX là việc áp dụng thuế GTGT. 2 Luật Quản lý thuế số 106/2016/QH13 đuợc Quốc hội Khoá XIII thông qua ngày 06/4/2016, có hiệu lực thi hành từ 01/07/2016 và các văn bản hướng dẫn hiện hành. 5 Về lý thuyết, thuế GTGT có những đặc điểm cơ bản sau đây: Một là, thuế GTGT chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong quá trình từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế GTGT chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế Hai là, thuế GTGT có bản chất là loại thuế gián thu.
Khoản tiền thuế GTGT được cấu thành trong giá bán của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và người mua hàng hóa, dịch vụ sẽ là người chịu thuế. Ba là, thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao. vì thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của NNT, do NNT chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN. Hơn nữa, thuế GTGT không có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng không bị ảnh hưởng bởi cách thức tổ chức các giai đoạn của quá trình này.
Tổng số thuế ở tất cả các khâu luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng. Bốn là, về bản chất thuế GTGT là loại thuế đánh vào người tiêu dùng. Nghĩa là người mua hàng hóa, dịch vụ để tiêu dùng - với tư cách là người chịu thuế. Do đó, việc hoàn thuế GTGT cũng phải được thực hiện đối với người chịu thuế (tức là người mua hàng để tiêu dùng), chứ không phải hoàn thuế cho NNT (người bán hàng).
Nguyên tắc hoàn thuế cho người thực sự chịu thuế cũng được áp dụng tương tự đối với bất kỳ loại thuế nào trong hệ thống thuế ở các quốc gia trên thế giới. Năm là, về tính lãnh thổ thì thuế GTGT chỉ đánh vào các hàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng tại lãnh thổ của quốc gia đánh thuế. Chính vì vậy, khi một người mua hàng hóa đã có thuế GTGT nhưng sau đó hàng hóa này không được tiêu dùng tại quốc gia đánh thuế (chẳng hạn, người mua hàng chuyển hàng hóa đã bị đánh thuế ra nước ngoài khi xuất cảnh) thì họ sẽ được hoàn lại số tiền thuế GTGT đã nộp cho Nhà nước khi mua hàng hóa chịu thuế. Sáu là, về phương pháp tính thuế, khoản tiền thuế GTGT đối với một chủ thể nộp thuế được tính theo phương pháp khấu trừ.
Đây là phương pháp tính thuế đặc trưng của thuế GTGT mà chúng ta sẽ không thấy các đặc trưng nay có trong các loại thuế khác. 6 Ngoài phương pháp khấu trừ là đặc trưng của thuế GTGT, do đặc thù ở nước ta có nhiều cơ sở kinh doanh, cá nhân kinh doanh không tuân thủ đúng chế độ hóa đơn chứng từ, đặc biệt là không có hóa đơn, chứng từ đầu vào chứng minh số thuế GTGT đã nộp. Do đó, pháp luật đã quy định thêm một phương pháp tính thuế khác, gọi là phương pháp tính trực tiếp trên GTGT hay còn gọi là phương pháp khoán nộp thuế. Khái niệm, đặc điểm của quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hộ kinh doanh 1.
Khái niệm quản lý thuế giá trị gia tăng Về bản chất của hoạt động quản lý thuế nói chung và quản lý thuế GTGT nói riêng, thiết nghĩ cần bắt đầu từ việc làm rõ khái niệm “quản lý”. Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “quản lý” được giải thích là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Theo Từ điển Wikipedia, thuật ngữ “quản lý” được định nghĩa là “hoạt động tập hợp và điều khiển mọi người nhằm đạt được những mục tiêu hoặc mục đích nhất định”. Với tư cách là một hoạt động đặc thù trong lĩnh vực thuế, quản lý thuế cần được xem xét theo cả hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, quản lý thuế bao gồm việc xây dựng chính sách thuế, ban hành pháp luật thuế và tổ chức thực hiện pháp luật thuế. Theo nghĩa hẹp, quản lý thuế bao gồm hoạt động quản lý đối tượng nộp thuế, quản lý số thuế phải nộp và tổ chức việc thu nộp thuế theo kế hoạch hành thu nhằm đạt được mục tiêu thu đúng, thu đủ số thuế theo quy định của pháp luật. Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả sẽ tiếp cận khái niệm quản lý thuế theo nghĩa hẹp khi triển khai các nội dung của đề tài luận văn. Từ các phân tích trên đây, có thể rút ra định nghĩa mang tính khái quát về quản lý thuế như sau: quản lý thuế là hoạt động ý chí của các chủ thể có thẩm quyền nhằm tổ chức việc thu, nộp thuế đúng quy định của pháp luật và đảm bảo tính hiệu quả kinh tế trong quá trình hành thu.
Ở mức độ khái quát, có thể hình dung sự khác biệt tương đối giữa phương pháp quản lý thuế gián thu so với phương pháp quản lý thuế trực thu 7 qua các khía cạnh chủ yếu như sau: Thứ nhất, về khả năng phát hiện mục tiêu đánh thuế và xu hướng trốn thuế. Do thuế gián thu thường đánh vào thu nhập của người mua hàng hóa, dịch vụ để tiêu dùng. Còn đối với thuế trực thu, do loại thuế này đánh trực tiếp vào thu nhập của NNT. Thứ hai, Đối với thuế gián thu, việc quản lý thuế thường gắn với vấn đề kiểm soát hóa đơn, chứng từ để xác định số lượng và giá bán của hàng hóa, dịch vụ.
Từ đó xác định số thuế gián thu phải nộp. Điểm căn bản trong quản lý thuế gián thu là phải xác định rõ loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và số lượng, giá bán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đó, trong khi đối với thuế trực thu, điểm mấu chốt trong quản lý thuế lại là phải xác định rõ loại thu nhập chịu thuế và số thu nhập thực tế của NNT để làm căn cứ tính thuế. Việc quản lý thuế GTGT cũng có những đặc thù riêng, xuất phát từ những đặc thù mang tính bản chất của loại thuế này. Một cách khái quát, có thể hình dung việc quản lý thuế GTGT có những đặc thù sau đây: 18K51010300@students.vn Một là, việc quản lý thuế GTGT đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền phải đặc biệt coi trọng vai trò của hóa đơn, chứng từ giao dịch liên quan đến hàng hóa, dịch vụ chịu thuế.
Hai là, trong quản lý thuế GTGT, việc khấu trừ thuế GTGT đầu vào là phương pháp tính thuế đặc trưng của thuế GTGT, do vậy cả người thu thuế và NNT đều quan tâm đến việc chứng minh số thuế GTGT đầu vào đã nộp của hàng hóa, dịch vụ tính thuế. Để quản lý thuế GTGT chặt chẽ và tránh tình trạng NNT có hành vi gian lận hóa đơn, chứng từ để trốn thuế, Nhà nước quy định nguyên tắc: để được chấp nhận số thuế GTGT đầu vào đã nộp là hợp pháp và được khấu trừ, NNT phải xuất trình được các hóa đơn, chứng từ giao dịch đầu vào trong đó thể hiện rõ số thuế GTGT đã nộp khi mua hàng hóa, dịch vụ đầu vào. Trên nguyên tắc, các hóa đơn, chứng từ đầu vào muốn được coi là hợp pháp, hợp lệ để dùng làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thì chính NNT phải chứng minh được các hóa đơn, chứng từ giao dịch này được phát hành hợp lệ, hợp pháp bởi người bán hàng cho họ 8 1. Đặc điểm của quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hộ kinh doanh Hộ kinh doanh là cơ sở sản xuất, kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ theo quy định tại Điều 79 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có).
Trường hợp các thành viên của hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh. Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh.