Tổng quan nghiên cứu

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) từ khu vực hộ kinh doanh (HKD) cá thể đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thúc đẩy lưu thông hàng hóa và đảm bảo an sinh xã hội. Trên phạm vi toàn quốc, có khoảng 5 triệu HKD đang hoạt động, song chỉ có khoảng 3,5 triệu hộ được cấp mã số thuế quản lý, dẫn đến số tiền nợ đọng và thất thu thuế ước tính gần 9.000 tỷ đồng. Thành phố Vĩnh Yên là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Vĩnh Phúc với diện tích tự nhiên 50,81 km², dân số trên 114.000 người, quy tụ 3.250 doanh nghiệp và 4.037 HKD hoạt động sôi động trên địa bàn 7 phường và 2 xã.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài xuất phát từ những khoảng trống pháp lý và bất cập thực tiễn trong công tác quản lý thuế GTGT đối với khu vực kinh tế cá thể. Việc áp dụng phương pháp khoán doanh thu bộc lộ nhiều kẽ hở, tình trạng sử dụng hai hệ thống sổ sách để trốn thuế còn phổ biến, trong khi cơ chế phối hợp liên ngành giữa đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế chưa thực sự đồng bộ.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận về quản lý thuế GTGT đối với HKD; phân tích thực trạng hệ thống pháp luật và đánh giá toàn diện kết quả thực thi tại thành phố Vĩnh Yên trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực hành thu. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng tỷ lệ đưa HKD vào diện quản lý từ mức 97,1% hiện tại lên 100%, đồng thời kiểm soát và kéo giảm tỷ lệ nợ đọng thuế từ mức 4,8% tổng thu ngân sách năm 2019 xuống dưới ngưỡng an toàn 3,0%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết thuế gián thu và nguyên tắc đánh thuế theo giá trị tăng thêm phát sinh qua từng khâu từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao, không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của người nộp thuế mà do người tiêu dùng cuối cùng gánh chịu. Đối với HKD cá thể, pháp luật quy định phương pháp tính thuế trực tiếp trên doanh thu áp dụng tỷ lệ phần trăm theo ngành nghề: phân phối hàng hóa chịu thuế suất 1% GTGT (cùng 0,5% thuế thu nhập cá nhân); dịch vụ có gắn với hàng hóa chịu 3% GTGT; các hoạt động dịch vụ đơn thuần chịu mức 5% GTGT.

Mô hình quản lý nhà nước về thuế theo nghĩa hẹp được vận dụng xuyên suốt, bao gồm chu trình khép kín: đăng ký thuế và định danh người nộp thuế; xác định căn cứ tính thuế (kê khai hoặc ấn định mức khoán); lập bộ thu thuế; đôn đốc nộp ngân sách; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Nghiên cứu chuẩn hóa các khái niệm cốt lõi: "Hộ kinh doanh" theo quy định tại Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP; "Hộ khoán nộp thuế trực tiếp"; "Hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai"; "Hóa đơn bán lẻ theo từng lần phát sinh"; và "Nợ đọng thuế có khả năng thu".

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp toàn diện từ các báo cáo tổng kết thu ngân sách, báo cáo nợ đọng và danh bạ quản lý thuế của Chi cục Thuế thành phố Vĩnh Yên từ năm 2017 đến năm 2021. Tổng cỡ mẫu khảo sát bao gồm toàn bộ 4.037 HKD đã được lập bộ quản lý trên địa bàn 9 xã, phường, kết hợp đối chiếu với tổng số 4.156 hộ theo dữ liệu điều tra thống kê kinh tế.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng để phân tích sâu hai nhóm đối tượng: nhóm hộ nộp thuế khoán (chiếm trên 98,6% tổng số hộ) và nhóm hộ nộp thuế theo phương pháp kê khai (53 hộ). Nghiên cứu lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, tổng hợp định lượng kết hợp phân tích chuẩn tắc quy phạm pháp luật (dựa trên Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và Thông tư 92/2015/TT-BTC). Việc lựa chọn phương pháp này cho phép lượng hóa chính xác mức độ thất thu thuế, đồng thời đánh giá hiệu quả vận hành của 153 quy trình thủ tục hành chính thuế đã được chuẩn hóa theo hệ thống quản lý chất lượng TCVN ISO 9001:2015 tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, công tác quản lý đối tượng nộp thuế đạt kết quả tích cực với tỷ lệ đưa vào quản lý đạt 97,1% (4.037 hộ được quản lý trên tổng số 4.156 hộ thực tế). Số lượng HKD mới được cấp mã số thuế tăng trưởng vượt bậc qua các năm: năm 2017 cấp mới 175 hộ, năm 2018 đạt 288 hộ và năm 2019 tăng vọt lên 690 hộ (tăng gấp 3,94 lần so với năm 2017). Tuy nhiên, cơ cấu phương pháp tính thuế có sự chênh lệch lớn khi phương pháp khoán chiếm tới 98,68% (3.984 hộ), trong khi nhóm hộ kê khai chỉ chiếm vỏn vẹn 1,32% (53 hộ).

Thứ hai, phát hiện dấu hiệu suy giảm nghĩa vụ thuế ở nhóm hộ tự kê khai doanh thu. Nếu như mức thuế bình quân của một hộ khoán tăng trưởng ổn định từ 1.815.000 đồng/tháng năm 2017 lên 4.748.000 đồng/tháng năm 2019 (tăng 161,6%), thì mức thuế bình quân của nhóm hộ kê khai lại sụt giảm mạnh, chỉ đạt khoảng 5.494.000 đồng/tháng vào năm 2019. Nhiều cơ sở kinh doanh trước đây nộp thuế khoán ở mức cao nhưng khi chuyển sang phương pháp kê khai lại khai báo doanh thu thấp nhằm giảm trừ số thuế phải nộp.

Thứ ba, tình trạng nợ đọng thuế gia tăng ở mức báo động. Đến ngày 31/12/2019, tổng số nợ thuế tại Chi cục Thuế thành phố Vĩnh Yên đạt 3.383 triệu đồng, tăng 793 triệu đồng (tương ứng tăng 122,1% so với năm 2018), chiếm tỷ trọng 4,8% trên tổng thu ngân sách, vượt xa chỉ tiêu khống chế 3,0% của Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc. Riêng khu vực hộ kinh doanh cá thể ghi nhận 664 lượt hộ nợ với số tiền nợ đọng lũy kế là 4.509 triệu đồng, trong đó nợ từ các năm trước chuyển sang chiếm tới 538 lượt hộ. Điển hình tại Đội thuế Khu vực 1 - Phường Ngô Quyền, tổng số thuế lập bộ là 126 triệu đồng/tháng nhưng số nợ đọng tồn đọng lên tới hơn 110 triệu đồng.

Thứ tư, bất cập lớn trong công tác hậu kiểm và giám sát hộ tạm nghỉ kinh doanh. Bình quân mỗi tháng có 206 hộ làm đơn nghỉ kinh doanh (chiếm 2,81% tổng số hộ quản lý) để hưởng chính sách giảm 50% hoặc miễn 100% thuế. Trong khi đó, lực lượng kiểm tra của Chi cục chỉ có 22 biên chế; trong năm 2019 tiến hành kiểm tra 260 đơn vị nhưng chỉ thực hiện kiểm tra được 2 HKD (chiếm 0,77%), dẫn đến tình trạng bỏ lọt các sai phạm về hóa đơn và ghi chép sổ sách kế toán.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm có thể được mô hình hóa và trình bày rõ nét qua bảng cân đối nợ thuế và biểu đồ cơ cấu nợ. Trong biểu đồ phân tích 3.383 triệu đồng tiền nợ tại thời điểm 31/12/2019, nhóm nợ khó thu chiếm 1.165 triệu đồng (34,4%), nợ chờ xử lý chiếm 1.130 triệu đồng (33,4%), nợ có khả năng thu chiếm 901 triệu đồng (26,6%) và nợ chờ điều chỉnh là 187 triệu đồng (5,6%). Sự phân rã dữ liệu này chứng minh áp lực thu hồi nợ đang dồn vào các khoản nợ tồn đọng kéo dài qua nhiều năm.

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng thất thu bắt nguồn từ quy định đăng ký kinh doanh tách rời đăng ký thuế tại Thông tư 95/2016/TT-BTC, cho phép khoảng trống thời gian 10 ngày làm việc khiến nhiều hộ cố tình trốn tránh đăng ký thuế. Bên cạnh đó, cơ chế ấn định doanh thu khoán còn mang nặng tính chủ quan, dẫn đến tình trạng thỏa thuận ngầm giữa cán bộ quản lý và người nộp thuế. Kết quả khảo sát tại Vĩnh Yên hoàn toàn tương đồng với báo cáo ngành thuế toàn quốc năm 2019, khi 73,4% số HKD sau kiểm tra buộc phải điều chỉnh tăng doanh thu khoán, trong đó 50% số hộ có mức điều chỉnh tăng từ 50% trở lên. Điều này khẳng định việc thiếu vắng hóa đơn chứng từ trong giao dịch mua bán hàng ngày là rào cản lớn nhất đối với tính minh bạch của thuế GTGT.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế liên thông tự động giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế. Cơ quan lập pháp cần sửa đổi quy định, bắt buộc tích hợp thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký HKD đồng thời với cấp Mã số thuế tự động trong vòng 24 giờ. Giải pháp này hướng tới mục tiêu quản lý 100% hộ kinh doanh phát sinh thực tế, xóa bỏ hoàn toàn khoảng trống trốn thuế trong giai đoạn 2021 - 2023, do Bộ Tài chính phối hợp Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì triển khai.

Thứ hai, bắt buộc chuyển đổi phương pháp kê khai và áp dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền. Chi cục Thuế thành phố Vĩnh Yên cần tập trung đưa 100% HKD quy mô lớn (doanh thu từ 1 tỷ đồng/năm trở lên hoặc sử dụng từ 10 lao động) chuyển hẳn sang phương pháp kê khai thuế. Lộ trình thực hiện từ năm 2022 đến năm 2024, phấn đấu nâng tỷ lệ hộ nộp thuế theo phương pháp kê khai từ 1,32% lên tối thiểu 15% tổng số HKD trên địa bàn, kiểm soát 100% giao dịch bán lẻ.

Thứ ba, tái cơ cấu nguồn nhân lực và tăng cường thanh tra, kiểm tra chuyên đề. Lãnh đạo Chi cục Thuế cần bổ sung biên chế chuyên trách cho bộ phận kiểm tra thuế, ứng dụng phần mềm phân tích rủi ro tự động. Mục tiêu nâng tỷ lệ kiểm tra đối với HKD từ 0,77% (2 hộ) lên mức tối thiểu 10% tổng số hộ (khoảng 400 hộ/năm) trong giai đoạn 2022 - 2025, tập trung kiểm tra xác minh thực tế 206 hộ báo nghỉ kinh doanh hàng tháng nhằm chống lợi dụng chính sách miễn, giảm thuế.

Thứ tư, triển khai đồng bộ các biện pháp xử lý và cưỡng chế thu hồi nợ đọng thuế. Đội Quản lý nợ thuế cần tiến hành phân loại chính xác 664 lượt hộ nợ thuế, thực hiện công khai danh tính trên phương tiện truyền thông địa phương, áp dụng biện pháp trích tiền gửi ngân hàng và thông báo ngừng sử dụng hóa đơn. Mục tiêu thu hồi trên 80% số nợ có khả năng thu (tương đương 720 triệu đồng), kéo giảm tỷ lệ tổng nợ thuế trên tổng thu ngân sách từ 4,8% xuống dưới mức mục tiêu 3,0% trong giai đoạn 2021 - 2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý thuế và cán bộ hành thu tại các Chi cục Thuế đô thị: Luận văn cung cấp khung phân tích thực tế về quản lý danh bạ, quy trình vận hành 153 thủ tục hành chính chuẩn ISO 9001:2015 và các giải pháp nghiệp vụ để xử lý dứt điểm 664 trường hợp nợ đọng thuế cá thể.

Các nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế: Công trình là nguồn cứ liệu thực tiễn phản ánh từ 4.037 HKD tại đô thị cấp tỉnh, hỗ trợ quá trình sửa đổi các văn bản dưới luật hướng dẫn Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và hoàn thiện khung pháp lý về hóa đơn điện tử máy tính tiền.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính: Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận chuyên sâu về bản chất thuế gián thu, phân tích định lượng kết hợp chuẩn tắc pháp lý, phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu các chuyên đề về quản lý thuế trực tiếp và gián thu.

Chủ hộ kinh doanh và các đơn vị cung cấp dịch vụ đại lý thuế: Nghiên cứu giúp người nộp thuế nắm vững ngưỡng miễn thuế 100 triệu đồng/năm, các mốc thời hạn nộp tờ khai (ngày 20 hàng tháng, ngày 15/12 hàng năm), quy định giảm thuế khi tạm ngừng kinh doanh và chế tài phạt chậm nộp 0,03%/ngày nhằm tối ưu hóa sự tuân thủ pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

Hộ kinh doanh cá thể có mức doanh thu bao nhiêu thì không phải nộp thuế GTGT? Căn cứ Thông tư 92/2015/TT-BTC và Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, HKD có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống thuộc đối tượng không phải nộp thuế GTGT và thuế thu nhập cá nhân. Tại thành phố Vĩnh Yên, các hộ có doanh thu dưới 100 triệu đồng đều được đưa vào danh bạ theo dõi riêng để đảm bảo quản lý sát thực tế.

Hộ khoán tạm ngừng hoạt động kinh doanh được xét giảm thuế GTGT như thế nào? Theo quy định, HKD nộp đơn xin tạm ngừng kinh doanh trước ngày 05 của tháng sẽ được xem xét giải quyết. Nếu thời gian tạm nghỉ từ 15 ngày trở lên trong tháng, hộ được giảm 50% số thuế khoán phải nộp; nếu nghỉ trọn tháng sẽ được miễn 100% số thuế tháng đó. Chi cục Thuế Vĩnh Yên giám sát chặt chẽ trung bình 206 hộ nghỉ mỗi tháng để ngăn chặn gian lận.

Mức tính tiền chậm nộp tiền thuế GTGT đối với hộ kinh doanh được xác định ra sao? Căn cứ Nghị định 129/2013/NĐ-CP và Luật Quản lý thuế, mức phạt chậm nộp được tính bằng 0,03%/ngày trên tổng số tiền thuế chậm nộp. Số ngày chậm nộp tính liên tục từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của hạn nộp thuế đến ngày nộp đủ tiền vào Kho bạc Nhà nước. Mức tính này được áp dụng nghiêm ngặt cho 126 hộ phát sinh nợ mới tại Vĩnh Yên trong năm 2019.

Những tiêu chí nào bắt buộc hộ kinh doanh phải chuyển sang nộp thuế theo phương pháp kê khai? Theo Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP và Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, các HKD quy mô lớn thuộc ngành thương mại, dịch vụ có từ 10 lao động tham gia bảo hiểm xã hội trở lên hoặc có tổng doanh thu năm trước liền kề từ 10 tỷ đồng trở lên bắt buộc phải chuyển sang nộp thuế theo phương pháp kê khai, thực hiện sổ sách kế toán và hóa đơn theo quy định.

Người nộp thuế có quyền khiếu nại quyết định ấn định thuế khoán của cơ quan thuế không? Người nộp thuế có quyền khiếu nại trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận thông báo nộp thuế nếu cho rằng mức khoán không đúng thực tế. Trong năm 2019, Chi cục Thuế thành phố Vĩnh Yên đã tiếp nhận và giải quyết dứt điểm 11 vụ khiếu nại hành chính đúng thẩm quyền (trong đó xác định 2 trường hợp khiếu nại đúng và hoàn trả tiền cho người nộp thuế), đảm bảo 100% vụ việc được xử lý minh bạch.

Kết luận

• Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật quản lý thuế GTGT đối với 4.037 hộ kinh doanh tại thành phố Vĩnh Yên. • Chỉ rõ thành tựu quản lý đối tượng nộp thuế đạt 97,1%, đồng thời vạch rõ sự mất cân đối khi hộ khoán chiếm tới 98,68% và nhóm hộ kê khai chỉ chiếm 1,32%. • Phân tích sâu sắc nguyên nhân làm bùng phát nợ đọng thuế lên mức 3.383 triệu đồng (tăng 122,1%) và tình trạng thiếu hụt biên chế khi 22 cán bộ kiểm tra chỉ tiếp cận được 2 hộ kinh doanh trong năm 2019. • Kiến nghị 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá: liên thông đăng ký thuế 24 giờ, bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử cho hộ lớn, nâng tỷ lệ kiểm tra lên 10% và cưỡng chế thu hồi 80% nợ có khả năng thu. • Xác lập lộ trình cụ thể nhằm kiểm soát và kéo giảm tỷ lệ nợ thuế từ 4,8% về dưới 3,0% tổng thu ngân sách trong giai đoạn 2021 - 2025.

Công trình đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện cơ chế thu thuế gián thu cấp cơ sở. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2021 đến 2025, ngành thuế cần đẩy nhanh việc kết nối máy tính tiền với cơ quan thuế để số hóa công tác hành thu. Độc giả quan tâm hãy liên hệ để khai thác toàn văn tài liệu và cùng trao đổi về các giải pháp hoàn thiện chính sách thuế.