Chương 1: Tổng quan pháp luật về quản lý thuế đối với các dự án dự án Thuỷ điện đầu tư tại Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quản lý thuế đối với các dự án thuỷ điện đầu tư tại Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Chương 3: Giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thuế đối với các dự án thuỷ điện đầu tư tại Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN THUỶ ĐIỆN ĐẦU TƯ TẠI CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 1.1 Khái quát chung về thuế, quản lý thuế và pháp luật về quản lý thuế đối với các dự án thủy điện đầu tƣ tại CHDCND Lào 1. Khái niệm, phân loại thuế, vai trò của thuế 1.
Khái niệm về thuế Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình, Nhà nƣớc chỉ có thể và cần phải dùng quyền lực để bắt buộc các thành viên trong xã hội có nghĩa vụ đóng góp một phần sản phẩm, một phần thu nhập cho Nhà nƣớc. Hình thức đóng góp ấy chính là thuế. Ngay từ khi nhà nƣớc ra đời thì thuế cũng xuất hiện, thuế là “sản phẩm” tất yếu từ sự xuất hiện hệ thống bộ máy Nhà nƣớc. Ngƣợc lại, thuế cũng là công cụ bảo đảm cung cấp phƣơng tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của hệ thống bộ máy Nhà nƣớc.
Thuế ra đời trong điều kiện Nhà nƣớc pháp quyền thời cổ đến giai đoạn xã hội phong kiến thì hoàn thiện dần.Thuế có tính hai mặt thể hiện rõ nét thông qua mức thuế suất cao hay thấp đồng thời còn thể hiện qua bản thân của chính loại thuế mà Nhà nƣớc thu vào cho ngân khố của mình: thứ nhất, thuế sẽ kìm hãm đối tƣợng nộp thuế về khía cạnh nào đó; thứ hai, thuế sẽ khuyến khích đối tƣợng đó hoạt động sản xuất kinh doanh hay ngành nghề,. Tất cả còn phụ thuộc vào tính hợp lý, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện và công bằng của thuế và hiệu lực của bộ máy Nhà nƣớc. Ở nƣớc ta, đến nay chƣa có một khái niệm thống nhất về thuế. Theo từ điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học (1998) thì thuế là khoản tiền hay hiện vật mà ngƣời dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp,.
buộc phải nộp cho Nhà nƣớc theo mức quy định. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cũng có khái niệm cho rằng: Thuế là một phần thu nhập mà mỗi tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đóng góp theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nƣớc. Những khái niệm về thuế nêu trên mới nhấn mạnh một chiều theo quan niệm của từng góc độ khác nhau, nên chƣa phản án đƣợc thật đầy đủ và chính xác bản chất của thuế. Đến nay, tuy chƣa có một định nghĩa về thuế thống nhất, nhƣng các nhà kinh tế đều thống nhất cho rằng, để làm rõ đƣợc bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật đƣợc những khía cạnh sau đây: - Nội dung kinh tế của thuế đƣợc đặc trƣng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nƣớc với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp.
- Những mối quan hệ dƣới dạng tiền tệ này đƣợc sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nƣớc. - Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nƣớc các khoản thuế đã đƣợc pháp luật quy định. Từ việc phân tích những quan niệm về thuế nêu trên, có thể đƣa ra một định nghĩa tổng quát về thuế nhƣ sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội. Để làm rõ hơn bản chất kinh tế của thuế, có thể tìm hiểu những đặc điểm của thuế sau đây: Thứ nhất, thuế mang tính pháp lý cao: Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã đƣợc quy định trong hiến pháp - đạo luật gốc của một quốc gia.
Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một cơ quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc hội - Cơ quan quyền lực Nhà nƣớc cao nhất. Mặt khác, tính quyền lực Nhà nƣớc cũng thể hiện ở chỗ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà nƣớc không thể thực hiện thu thế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã đƣợc xác định trong các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực nhà nƣớc ban hành. Thứ hai, thuế mang tính bắt buộc: đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế. Nhà nƣớc thực hiện phƣơng thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân dƣới hình thức thuế, mà kết qủa của nó là một bộ phận thu nhập của ngƣời nộp thuế đƣợc chuyển giao bắt buộc cho Nhà nƣớc mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho ngƣời nộp thuế.
Với đặc điểm này, thuế không giống nhƣ các hình thức huy động tài chính tự nguyện hoặc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc nhƣng chỉ áp dụng cho các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật. Thứ ba, thuế mang tính không hoàn trả trực tiếp: đặc điểm này của thuế đƣợc thể hiện ở các khía cạnh sau đây: Sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nƣớc không hoàn toàn dựa trên mức độ ngƣời nộp thuế thừa hƣởng những dịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nƣớc cung cấp. Ngƣời nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nƣớc cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình thì mới nộp thuế cho Nhà nƣớc. Các khoản thuế đã nộp cho Nhà nƣớc sẽ không đƣợc hoàn trả trực tiếp cho ngƣời nộp thuế.
Ngƣời nộp thuế sẽ nhận một phần các hàng hoá, dịch vụ công cộng mà Nhà nƣớc đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị mà ngƣời nộp thuế đƣợc hƣởng thụ không nhất thiết tƣơng đồng với khoản thuế mà họ đã nộp cho Nhà nƣớc. Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế với các khoản phí, lệ phí và giá cả. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại thuế Phân loại thuế là sự sắp xếp các sắc thuế trong một hệ thống chính sách thuế thành những nhóm khác nhau theo các tiêu thức nhất định.
Căn cứ theo phƣơng thức đánh thuế thì hệ thống thuế đƣợc chia làm hai loại, cụ thể là: Thuế trực thu: Là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của ngƣời nộp thuế. Thuế trực thu có đặc điểm là đối tƣợng nộp thuế theo luật quy định đồng nhất với ngƣời phải chịu thuế. Ở đây, theo quy định của luật, thuế thu trực tiếp vào thu nhập của ngƣời nộp thuế. Nhƣ vậy, thuế trực thu làm cho khả năng và cơ hội chuyển dịch gánh nặng thuế cho ngƣời khác khó khăn hơn.
Về nguyên tắc loại thuế này mang tính chất luỹ tiến vì nó tính đến khả năng của ngƣời nộp thuế, ngƣời có thu nhập cao hơn phải nộp nhiều hơn, còn ngƣời có thu nhập thấp thì nộp thuế ít hơn. Loại thuế trực thu thƣờng bao gồm các thuế đánh trên thu nhập của tổ chức và cá nhân. Thuế trực thu bao gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp (TTNDN), thuế thu nhập cá nhân (TTNCN), thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp,. Ƣu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp vào thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập, hơn thế nữa, thuế trực thu còn cho phép xem xét đến các yếu tố tƣơng đối độc lập đến thu nhập của ngƣời nộp thuế nhƣ hoàn cảnh bản thân, hoàn cảnh gia đình.
Do đó, thuế trực thu có tác dụng rất lớn trong việc điều hoà thu nhập, giảm bớt sự chênh lệch đáng kể về mức sống giữa các tầng lớp dân cƣ, do đó đã đảm bảo đƣợc tính công bằng trong xã hội. Nhƣợc điểm của thuế trực thu là dễ gây ra phản ứng từ phía ngƣời nộp thuế khi Nhà nƣớc điều chỉnh tăng thuế. Hơn nữa việc theo dõi, tính toán số thuế phải nộp và thủ tục thu, nộp thuế hết sức phức tạp. Số thu động viên vào ngân sách thƣờng chậm và chi phí quản lý thu thuế khá tốn kém.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thuế gián thu: là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập hay tài sản của ngƣời nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ. Ngƣời tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ đó là ngƣời chịu loại thuế này. Thuế gián thu có đặc điểm là ngƣời nộp thuế theo luật và ngƣời chịu thuế không đồng nhất với nhau. Ngƣời nộp thuế là ngƣời sản xuất, kinh doanh hàng hoá dịch vụ, còn ngƣời chịu thuế là ngƣời tiêu dùng các hàng hoá đó, họ mua hàng hoá với giá cả trong đó có cả thuế.
Thuế gián thu ảnh hƣởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế giá cả thị trƣờng. Tuy nhiên, sự ảnh hƣởng đó của thuế gián thu không những chiụ chi phối của mối quan hệ cung cầu trên thị trƣờng, mà còn phụ thuộc vào bản chất của thị trƣờng, trong đó có sự tác động của luật thuế, tức là thị trƣờng đó là thị trƣờng cạnh tranh hay độc quyền. Về nguyên tắc thuế gián thu mang tính chất luỹ thoái vì nó không tính đến khả năng thu nhập của ngƣời chịu thuế, ngƣời thu nhập cao hay thấp đều phải chịu thuế nhƣ nhau nếu cùng mua một loại hàng hoá dịch vụ. Loại thuế này thƣờng là các thuế có cơ sở đánh thuế là các khoản thu nhập dùng để tiêu dùng nhƣ: thuế Giá trị gia tăng (GTGT), thuế tiêu thụ đặc biệt,.
Ƣu điểm của thuế gián thu là đối tƣợng chịu thuế rất rộng, thuế gián thu đƣợc che đậy qua giá bán hàng hoá dịch vụ nên ngƣời chịu thuế ít có cảm giác mình bị Nhà nƣớc đánh thuế. Thuế gián thu đem lại nguồn thu thƣờng xuyên và ổn định cho Ngân sách Nhà nƣớc (NSNN).