Chương 1: Lý luận chung về thuế bảo vệ môi trường. - Chương 2: Thực trạng các quy định pháp luật thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế bảo vệ môi trƣờng 1.
Khái niệm thuế bảo vệ môi trường Môi trường được được tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau tùy vào đối tượng và mục đích nghiên cứu. Đối với pháp luật Việt Nam, khái niệm môi trường được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2020 như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên”. Trải qua nhiều thế kỉ, môi trường đã chịu ảnh hưởng từ hoạt động sống của con người dẫn đến tình trạng suy thoái, ô nhiễm, hệ quả là gây hàng loạt tác động tiêu cực ngược lại đối với sự sống của con người và sinh vật. Do đó, những thập kỉ gần đây, BVMT đang được xem là trách nhiệm của toàn xã hội và là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia.và cộng đồng quốc tế.
Theo Luật BVMT năm 2020, BVMT là “hoạt động phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu”2. Nhận thức được tầm quan trọng của môi trường và yêu cầu cấp thiết cần BVMT, cũng như nhằm thực hiện mô hình phát triển bền vững. Ở nước ta, vấn đề BVMT đã được cụ thể hóa bằng nhiều quy định pháp lý. Cụ thể, Điều 43 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người đều có quyền sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ BVMT”.
Tiếp đến Điều 63 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Nhà nước có chính sách BVMT, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động BVMT, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo. Tổ chức cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại.” Ngoài ra, Luật BVMT cũng có một số quy định về các công cụ hành chính, mệnh lệnh nhằm BVMT.
Trong những năm qua, công tác tuyên truyền giáo dục cũng được đẩy mạnh thực hiện. Tuy nhiên những biện pháp này chưa đạt hiệu quả cần thiết, do đó các công cụ kinh tế với những ưu điểm nổi bật đã được triển khai áp dụng. Các ưu thế của công cụ kinh tế nổi bật hơn các công cụ BVMT khác ở các đặc điểm: tính đa dạng về 2 Khoản 2 Điều 3 Luật BVMT (Luật số 72/2020/QH14) ngày 17/11/2020 6 hình thức; tính linh hoạt, mềm dẻo trong quá trình thực hiện; vận hành trên cơ sở quy luật của kinh tế thị trường nên tạo ra cơ hội lựa chọn và quyền chủ động, tự giác của các chủ thể; khuyến khích việc nghiên cứu công nghệ - kỹ thuật thân thiện với môi trường; tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN) và chi phí BVMT,… Công cụ kinh tế thường được sử dụng trong biện pháp BVMT như là: thuế/phí BVMT, đặt cọc – hoàn trả, trợ cấp BVMT, ký quỹ môi trường, cota gây ô nhiễm…3 Trong nhóm công cụ kinh tế này, thuế BVMT là ý tưởng của giáo sư Pigou, đã được sử dụng nhưng một biện pháp phổ biến và quan trọng nhất đang được sử dụng bởi nhiều quốc gia trong đó bao gồm Việt Nam. Dưới những góc độ tiếp cận khác nhau, thuật ngữ thuế BVMT có những cách hiểu khác nhau: Theo nghĩa rộng, theo Cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat) thuế BVMT (còn được gọi là thuế môi trường) là: “các sắc thuế có căn cứ tính thuế là một đơn vị vật chất (hoặc đại diện cho nó) của một vật gì đó đã được chứng minh sẽ gây ra tác động có hại đến môi trường”4.
Theo đó, hiện nay có đa dạng những sắc thuế môi trường như thuế carbon ở Nhật Bản, Pháp, Đan Mạch, Singapore…; thuế năng lượng ở Hà Lan, Hoa Kỳ…; thuế khí thải ở Úc; thuế ô nhiễm ở Hà Lan; thuế xanh ở Ấn Độ, Hungary; thuế nhiên liệu động cơ ở Ireland, Hoa Kỳ5. Mặt khác, cũng với cách hiểu theo nghĩa rộng, có tác giả cho rằng thuế BVMT có thể hiểu là “toàn bộ các khoản thuế mà người nộp thuế phải đóng góp liên quan đến việc tác động đến môi trường thông qua hành vi của mình”6. Với cách hiểu này thuế, thuế BVMT bao gồm nhiều loại thuế liên quan đến môi trường như thuế tiêu thụ đặc biệt (đối với các nhóm hàng hóa xăng dầu, ô tô), thuế thu nhập doanh nghiệp (ưu đãi thuế đối với các doanh nghiệp sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch,…), thuế xuất khẩu (ưu đãi thuế đối với các sản phẩm thân thiện với môi trường) và thuế BVMT (với tư cách một loại thuế độc lập). Theo nghĩa hẹp, thuế BVMT là một sắc thuế được ban hành dưới hình thức văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa Nhà nước và các chủ thể có hành vi gây tác động tiêu cực tới môi trường.
Tại Việt Nam hiện nay, thuế BVMT đang được áp dụng thông qua cơ sở Luật 3 Bùi Đường Nghiêu (chủ nhiệm đề tài) (2004), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chính sách thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bộ Tài chính, tr. 39 4 Eurostat, https://ec.eu/eurostat/web/environment/taxes, truy cập ngày 20/4/2022 5 “Chính sách thuế bảo vệ môi trường tại các quốc gia trên thế giới”, https://mof.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-tin?dDocName=MOFUCM109868, truy cập ngày 20/4/2022 6 Văn Thị Ngọc Hạnh (2011), Nghiên cứu Luật thuế BVMT, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ, tr.28 7 Thuế BVMT, được ban hành ngày 15/11/2010 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2012. Theo đó, khái niệm thuế BVMT được hiểu theo nghĩa hẹp và được ghi nhận như sau: “Thuế BVMT là thuế gián thu, thu vào sản phẩm hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu tới môi trường”7. Về cơ bản khái niệm này đã thể hiện được phương thức thu thuế của thuế BVMT tại Việt Nam là điều tiết gián tiếp thông qua giá bán hàng hóa và xác định đối tượng chịu thuế là các sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây ra tác động xấu tới môi trường.
Thuế BVMT với cách hiểu là một sắc thuế độc lập có mục đích chủ yếu là nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp trong xã hội về ý thức BVMT, từ đó góp phần thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng sản phẩm gây ô nhiễm môi trường khi sử dụng8. Đặc điểm thuế bảo vệ môi trường Thuế BVMT cũng là một sắc thuế thuộc hệ thống thuế quốc gia. Chính vì vậy, thuế BVMT có những đặc điểm chung của thuế chẳng hạn như: do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất quyết định; là một khoản thu nộp bắt buộc; gắn liền với quyền lực nhà nước; nghĩa vụ thuế được thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế, không phụ thuộc vào lợi ích nhận được không mang tính đối giá và không hoàn trả trực tiếp, nhà nước không nhất thiết hoàn trả lại cho chính người nộp thuế những lợi ích tương đương với số tiền thuế, trong lĩnh vực thuế nói chung và thuế BVMT nói riêng, sự thụ hưởng các lợi ích từ nhà nước cuối cùng mang tính trừu tượng, công cộng và gián tiếp. Bên cạnh đó, với đặc trưng là một loại thuế thu vào hàng hóa khi sử dụng tác động xấu đến môi trường, thuế BVMT còn có những đặc điểm riêng nổi bật.
Cụ thể bao gồm: Một là, thuế BVMT là một loại thuế gián thu. Thuế gián thu là loại thuế điều tiết gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ, người nộp thuế không phải người chịu thuế. Như vậy, người nộp thuế và người chịu thuế BVMT không đồng thời là một, cụ thể thì người chịu thuế BVMT là người tiêu dùng hàng hóa gây ô nhiễm, người nộp thuế là chủ thể sản xuất, nhập khẩu hàng hóa, sản phẩm. Theo đó, số tiền thuế BVMT mà người chịu thuế phải trả được chuyển giao cho người nộp thuế thông qua giá cả của hàng hóa chịu thuế khi bán ra thị trường, tức là giá bán ra lúc này bao gồm giá cả hàng hóa cùng với số tiền thuế BVMT phải chịu.
Đặc điểm thuế gián thu của thuế BVMT được cho là phù hợp với nguyên tắc 7 Khoản 1 Điều 2 Luật Thuế BVMT (Luật số 57/2010/QH12) ngày 15/11/2010 8 Chính phủ (2010), Báo cáo đánh giá tác động của dự án Luật thuế bảo vệ môi trường, Hà Nội, tr.2 8 người gây ô nhiễm phải trả tiền. Nguyên tắc này có nội dung xác định chủ thể nào gây thiệt hại cho môi trường phải có nghĩa vụ nộp thuế để nhà nước khắc phục hậu quả. Do đó người chịu thuế BVMT phải là người tiêu dùng, sử dụng hàng hóa gây tác động xấu đến môi trường mà không phải là các chủ thể sản xuất, nhập khẩu loại hàng hóa này. Với quy định là một sắc thuế gián thu, công tác quản lý thuế BVMT cũng được dễ dàng thực hiện hơn các loại thuế trực thu, khi mà số lượng người chịu thuế của thuế BVMT là rất lớn.
Thuế BVMT cũng là một sắc thuế được ban hành muộn so với hệ thống pháp luật thuế tại Việt Nam, do đó với một sắc thuế gián thu người chịu thuế ít khi có phản ứng tiêu cực đối với khoản thuế phải trả. Bởi lẽ các lý do sau: Thứ nhất, do khoản thuế này không đánh trực tiếp vào thu nhập như các loại thuế trực thu, mà được thể hiện gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa khiến cho người chịu thuế không cảm nhận được gánh nặng về thuế; Thứ hai, do tính ẩn của thuế BVMT, thuế BVMT tại Việt Nam được xem là một loại thuế gián thu ẩn, do thuế suất và số thuế phải nộp không thể hiện rõ ràng trên hóa đơn mua bán hàng hóa như thuế giá trị gia tăng9. Hơn nữa, chính từ việc khoản thuế BVMT phải chịu được cộng dồn vào giá hàng hóa, thuế BVMT cũng góp phần làm tăng sự cạnh tranh giữa các chủ thể sản xuất, nhập khẩu hàng hoá.