Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật với đề tài "Pháp luật về thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam" được thực hiện bởi sinh viên Trần Thị Nguyệt Mai (Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, năm 2022) dưới sự hướng dẫn của ThS. Danh Phạm Mỹ Duyên.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn:
Sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng kéo theo những tác động tiêu cực đến hệ sinh thái thông qua các hoạt động khai thác cạn kiệt tài nguyên và xả thải. Tại Việt Nam, tình trạng biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí tại các khu công nghiệp, đô thị lớn đang ở mức báo động; theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm tại Việt Nam có khoảng 60.000 ca tử vong liên quan đến ô nhiễm không khí. Nhằm hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường theo định hướng phát triển bền vững, thuế bảo vệ môi trường (BVMT) được áp dụng như một công cụ kinh tế điều tiết hành vi sản xuất và tiêu dùng dựa trên nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền". Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thi hành kể từ khi Luật Thuế BVMT năm 2010 có hiệu lực (từ ngày 01/01/2012), khung pháp lý hiện hành đã bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc thực tiễn, làm giảm hiệu quả điều tiết của sắc thuế này ở cả khía cạnh kinh tế lẫn môi trường.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là phân tích các quy định cơ bản của pháp luật thuế BVMT tại Việt Nam, đánh giá kết quả đạt được và chỉ rõ những bất cập, hạn chế từ thực tiễn thi hành; từ đó đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật. Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thuế BVMT, bao gồm khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc và sự cần thiết hoàn thiện pháp luật thuế BVMT.
- Tổng kết, phân tích kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về thuế môi trường của một số quốc gia (Trung Quốc, Đức, Nhật Bản) để rút ra bài học cho Việt Nam.
- Phân tích thực trạng các quy định của Luật Thuế BVMT năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành về đối tượng chịu thuế/không chịu thuế, người nộp thuế/người chịu thuế, căn cứ tính thuế và quản lý thuế.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật và đề xuất các kiến nghị sửa đổi, bổ sung cụ thể nhằm nâng cao hiệu lực thi hành.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận chung về thuế BVMT; các quy định pháp luật thực định về thuế BVMT tại Việt Nam (trọng tâm là Luật Thuế BVMT năm 2010, Nghị định số 67/2011/NĐ-CP, Thông tư số 152/2011/TT-BTC, Thông tư số 159/2012/TT-BTC, Nghị quyết số 579/2018/UBTVQH14, Nghị quyết số 18/2022/UBTVQH15); thực tiễn thi hành và các giải pháp hoàn thiện.
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung vào các nội dung pháp lý cơ bản của sắc thuế: người nộp thuế, người chịu thuế, đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, căn cứ tính thuế, thời điểm tính thuế, kê khai, nộp thuế và hoàn thuế. Đề tài không đi sâu vào khâu quản lý, phân bổ nguồn thu ngân sách nhà nước từ thuế BVMT cũng như các quy định bảo vệ môi trường nằm ngoài phạm vi Luật Thuế BVMT. Không gian nghiên cứu tại Việt Nam và thời gian khảo cứu dữ liệu từ năm 2010 đến đầu năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết, khái niệm và cơ sở pháp lý:
- Khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường: Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; Điều 43 và Điều 63 Hiến pháp năm 2013 về quyền sống trong môi trường trong lành và nghĩa vụ bảo vệ môi trường.
- Lý thuyết kinh tế và thuế học: Thuyết thuế Pigou (Arthur Cecil Pigou) về việc sử dụng thuế suất để nội hóa các chi phí ngoại ứng tiêu cực vào giá bán hàng hóa; nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" (Polluter Pays Principle).
- Khái niệm thuế BVMT: Tiếp cận theo nghĩa hẹp tại khoản 1 Điều 2 Luật Thuế BVMT năm 2010: "Thuế BVMT là thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu tới môi trường".
- Chủ trương, chính sách: Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; Quyết định số 450/QĐ-TTg năm 2022 phê duyệt Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số 508/QĐ-TTg năm 2022 phê duyệt Chiến lược Cải cách hệ thống thuế đến năm 2030; Chỉ thị số 33/CT-TTg năm 2020 về quản lý chất thải nhựa.
- Cam kết quốc tế: Công ước Vienna năm 1985, Nghị định thư Montreal năm 1987 về các chất làm suy giảm tầng ôzôn; Nghị định thư Kyoto với Cơ chế phát triển sạch (CDM); các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, bình luận: Sử dụng để giải thích cấu trúc quy phạm của các điều luật trong Luật Thuế BVMT năm 2010 và văn bản dưới luật, bình luận tính hợp lý và sự bất cập của các quy định hiện hành.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh thuế BVMT với các sắc thuế gián thu khác (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt) và với phí BVMT; đối chiếu khung pháp lý của Việt Nam với các mô hình thuế môi trường tại Trung Quốc (Luật Thuế BVMT 2016), Cộng hòa Liên bang Đức (Đạo luật cải cách thuế sinh thái 1999-2003, thuế năng lượng, thuế vận tải) và Nhật Bản (thuế carbon 2012, thuế phương tiện xanh).
- Phương pháp thống kê: Tổng hợp số liệu thu ngân sách nhà nước từ thuế BVMT giai đoạn 2012–2016 từ Bộ Tài chính; số liệu hệ số phát thải khí nhà kính (CO2, SOx, NOx) từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA); mức thuế suất túi ni lông tại Anh, Ireland, Hồng Kông.
- Phương pháp quy nạp, tổng hợp: Khái quát hóa từ các hạn chế thực tiễn để xây dựng hệ thống nguyên tắc và các nhóm giải pháp sửa đổi luật.
Nguồn dữ liệu:
Báo cáo tổng kết thi hành Luật Thuế BVMT của Bộ Tài chính (2017), Báo cáo đánh giá tác động của Chính phủ (2010), Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính – Ngân sách Quốc hội, số liệu của Tổng cục Thuế, số liệu y tế từ WHO, dữ liệu năng lượng từ EIA, OECD, Eurostat và các tạp chí chuyên ngành luật học, kinh tế môi trường.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về thuế bảo vệ môi trường
Chương này tập trung làm rõ bản chất pháp lý, đặc điểm, vai trò của thuế BVMT, sự cần thiết phải cải cách và bài học kinh nghiệm quốc tế:
| Tiêu chí phân biệt |
Thuế bảo vệ môi trường |
Phí bảo vệ môi trường |
| Bản chất chủ thể |
Người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa gây ô nhiễm; người nộp là đơn vị sản xuất/nhập khẩu. |
Thu trực tiếp vào chủ thể có hành vi xả thải gây ô nhiễm môi trường. |
| Giai đoạn điều tiết |
Đánh vào khâu tiêu dùng/sử dụng hàng hóa. |
Đánh vào khâu sản xuất phát sinh chất thải. |
| Tính đối giá và hoàn trả |
Không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp, nộp vào NSNN chung. |
Mang tính đối giá, hoàn trả trực tiếp cho công tác xử lý ô nhiễm môi trường. |
| Hiệu lực pháp lý |
Được quy định bằng văn bản Luật do Quốc hội ban hành, mức thu ổn định. |
Thường quy định bằng văn bản dưới luật, mức thu thấp, tính cưỡng chế thấp hơn. |
- Kinh nghiệm quốc tế:
- Trung Quốc: Luật Thuế BVMT năm 2016 (hiệu lực 2018) chuyển đổi từ phí xả thải sang thuế, phân bổ 100% số thu cho chính quyền địa phương, đánh thuế vào 44 chất ô nhiễm không khí (chưa gồm CO2), 65 chất ô nhiễm nước, chất thải rắn và tiếng ồn; phân hóa thuế suất theo mức độ ô nhiễm và miễn giảm khi nồng độ xả thải thấp hơn chuẩn quy định từ 30%–50%.
- Cộng hòa Liên bang Đức: Thực hiện cải cách thuế sinh thái có lộ trình tăng thuế hàng năm đối với thuế năng lượng (xăng 65,45 cent/lít, diesel 47,04 cent/lít) và thuế vận tải dựa trên lượng phát thải CO2 và dung tích động cơ.
- Nhật Bản: Ban hành thuế carbon từ năm 2012 bổ sung trực tiếp trên nhiên liệu hóa thạch (289 JPY/tấn CO2) và áp dụng thuế phương tiện xanh với mức ưu đãi cao nhất cho xe điện, tàu điện.
Chương 2: Thực trạng các quy định pháp luật thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện
Chương này phân tích chi tiết các vướng mắc của pháp luật thực định và đưa ra các đề xuất cụ thể:
-
Về đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế:
- Túi ni lông: Quy định bao bì tự sản xuất/nhập khẩu để đóng gói sản phẩm hoặc làm dịch vụ đóng gói chỉ cần có "cam kết sử dụng" là không chịu thuế (Thông tư số 159/2012/TT-BTC) đã tạo lỗ hổng để các cơ sở sản xuất trốn thuế. Tình trạng tự dán nhãn "thân thiện môi trường" tràn lan và việc thu thuế khoán tại các hộ sản xuất nhỏ khiến giá bán túi ni lông thực tế rẻ hơn cả mức thuế quy định.
- Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV): Danh mục thuốc diệt cỏ hạn chế sử dụng chịu thuế đã bị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bãi bỏ trong các văn bản chuyên ngành, dẫn đến việc không có căn cứ pháp lý để thu thuế (số thu nhiều năm bằng 0). Một số hóa chất như Celbrite MT 30EC, TC 20L đã bị cấm hoặc không còn lưu hành nhưng vẫn nằm trong biểu thuế thời gian dài (trước khi Nghị quyết số 579/2018/UBTVQH14 điều chỉnh).
- Bất cập hàng mua để xuất khẩu: Hàng hóa do cơ sở trực tiếp sản xuất để xuất khẩu thuộc diện không chịu thuế, nhưng mua hàng hóa thuộc diện chịu thuế để xuất khẩu lại bị đánh thuế, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu dù không tiêu dùng tại Việt Nam.
-
Về người nộp thuế và người chịu thuế:
- Điều 5 Luật Thuế BVMT quy định rõ người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa chịu thuế. Tuy nhiên, luật không quy định khái niệm người chịu thuế. Do tính chất thuế ẩn, phần lớn người tiêu dùng không nhận thức được mình đang gánh chịu chi phí thuế BVMT khi mua hàng hóa.
-
Về căn cứ tính thuế và mức thuế suất:
- Cơ cấu nguồn thu mất cân đối: Thuế BVMT đối với xăng dầu chiếm hơn 95,5% tổng số thu toàn ngành thuế.
- Tương quan bất hợp lý giữa than đá và xăng dầu: Theo EIA, than antraxit phát thải CO2 trên một đơn vị nhiệt gấp xấp xỉ 1,5 lần xăng dầu và phát sinh nhiều khí độc (SOx, NOx). Dù vậy, thuế đối với than antraxit chỉ ở mức 30.000 đồng/tấn (mức trung bình khung), trong khi xăng đã chạm mức kịch khung 4.000 đồng/lít (trước khi Nghị quyết số 18/2022/UBTVQH15 giảm tạm thời xuống 2.000 đồng/lít để kiểm soát lạm phát).
- Bất hợp lý giữa xăng và dầu: Dầu diesel có mức phát thải ô nhiễm cao hơn xăng nhưng mức thuế tuyệt đối áp dụng chỉ bằng 50% so với xăng (2.000 đồng/lít so với 4.000 đồng/lít).
- Bất cập trong tính thuế túi ni lông: Tính thuế theo khối lượng (kg) mà không tính theo số lượng (cái/túi) tạo ra sự bất bình đẳng: túi mỏng có số lượng xả thải rác nhiều hơn trên mỗi kg nhưng nộp thuế bằng túi dày. Mức thuế kịch khung 50.000 đồng/kg tương đương 500–700 đồng/túi loại 5kg thông dụng (hoặc 200–500 đồng/túi nhỏ), quá thấp so với Anh (khoảng 3.000 đồng/túi) hay Ireland (khoảng 5.500 đồng/túi), không đủ sức răn đe hành vi tiêu dùng.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính kèm số liệu thực chứng:
Khóa luận đã tổng hợp bức tranh toàn diện về số thu thuế BVMT tại Việt Nam kể từ khi luật có hiệu lực:
| Năm |
Tổng số thu thuế BVMT (Tỷ đồng) |
Tỷ trọng trong tổng thu NSNN (%) |
Tỷ trọng trên GDP (%) |
| 2012 |
11.160 |
1,5% |
0,3% |
| 2013 |
11.512 |
– |
– |
| 2014 |
11.970 |
– |
– |
| 2015 |
27.020 |
– |
– |
| 2016 |
42.393 |
4,1% |
0,9% |
Nghiên cứu làm rõ nghịch lý quản lý: Xăng dầu đóng góp trên 95,5% tổng thu, trong khi nhóm thuốc BVTV có số thu tiệm cận mức 0 đồng; lượng rác thải nhựa tại Việt Nam phát sinh khoảng 1,8 triệu tấn/năm với hơn 30 tỷ túi ni lông (trung bình 1 kg túi/hộ gia đình/tháng) nhưng chính sách thuế không hạn chế được việc sử dụng.
Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật do tác giả đề xuất:
- Mở rộng danh mục đối tượng chịu thuế: Bổ sung thuốc lá (chứa hơn 7.000 hóa chất, 70 chất gây ung thư; tỷ lệ phơi nhiễm khói thuốc thụ động tại nhà 67,6%, nơi làm việc 49%, quán bar/cà phê 90%), các sản phẩm nhựa dùng một lần (hộp xốp, ly, chai, ống hút nhựa), pin, hóa chất tẩy rửa công nghiệp và chất thải phóng xạ.
- Đưa xăng sinh học (E5, E10) thành đối tượng chịu thuế độc lập: Không tính thuế cơ học dựa trên tỷ lệ % gốc hóa thạch như hiện nay, mà xác định mức thuế suất ưu đãi thực chất căn cứ vào mức giảm phát thải CO (giảm 27,76%) và HC (giảm 16,23%) so với xăng khoáng.
- Sửa đổi quy định về túi ni lông chịu thuế: Quy định mọi loại túi làm từ màng nhựa (không phân biệt màng đơn, màng phức, đơn lớp hay đa lớp) đều chịu thuế; nghiên cứu chuyển đổi hoặc kết hợp cách tính thuế theo số lượng túi và nâng mức thuế suất vượt khung hiện hành.
- Sửa đổi quy định về dung dịch HCFC và thuốc BVTV: Sửa khoản 3 Điều 3 Luật Thuế BVMT thành: "Dung dịch hydro-chloro-fluoro-carbon (Dung dịch HCFC), bao gồm cả dung dịch HCFC có trong hỗn hợp chứa dung dịch HCFC"; rà soát đồng bộ danh mục thuốc diệt cỏ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Miễn thuế cho hàng hóa mua để xuất khẩu: Sửa đổi điểm c khoản 2 Điều 4 Luật Thuế BVMT nhằm loại trừ nghĩa vụ thuế đối với tổ chức, cá nhân mua hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế để xuất khẩu ra nước ngoài.
- Điều chỉnh khung thuế suất đối với than đá và dầu: Tăng mức thuế đối với than đá tương xứng với hệ số phát thải CO2 (gấp 1,5 lần xăng dầu) và cân đối lại tỷ lệ thuế giữa dầu diesel và xăng.
- Giữ nguyên quy định không định nghĩa "người chịu thuế": Bác bỏ đề xuất bổ sung khái niệm người chịu thuế vào luật để bảo đảm tính thống nhất của cơ chế điều tiết thuế gián thu, thay vào đó đẩy mạnh biện pháp công khai hóa chính sách qua giáo dục truyền thông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của khóa luận: Đề tài tập trung nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý thực định, chưa xây dựng được các mô hình định lượng kinh tế lượng để đo lường độ co giãn của cầu theo giá đối với từng mặt hàng chịu thuế khi thay đổi mức thuế suất tuyệt đối. Dữ liệu số thu chi tiết theo từng nhóm mặt hàng chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2012–2016 do sự giới hạn trong việc tiếp cận các báo cáo thống kê chuyên ngành công khai giai đoạn sau.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá tác động tài chính - môi trường khi Việt Nam tham gia thị trường định giá carbon quốc tế; nghiên cứu cơ chế chuyển đổi từ thuế gián thu trên sản phẩm sang thuế phát thải carbon trực tiếp (thuế carbon độc lập) theo kinh nghiệm của các nước OECD.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Thương mại, Luật Tài chính - Ngân sách, Luật Môi trường và ngành Kinh tế công cộng.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Bộ Tài nguyên và Môi trường) và Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội trong quá trình xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế BVMT.
- Các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu năng lượng (xăng dầu, than đá), bao bì nhựa và hóa chất.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống luận cứ so sánh thuế BVMT với phí BVMT ở Chương 1; các số liệu đối chiếu mức độ phát thải kỹ thuật với biểu thuế tuyệt đối giữa than đá - xăng dầu ở Chương 2; chuỗi 6 kiến nghị lập pháp sửa đổi điều khoản cụ thể của Luật Thuế BVMT năm 2010.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao tác giả không đồng tình với kiến nghị bổ sung định nghĩa "người chịu thuế" vào Luật Thuế bảo vệ môi trường?
Tác giả lập luận rằng thuế BVMT mang bản chất của thuế gián thu. Việc không định nghĩa người chịu thuế trong văn bản luật là nhằm đảm bảo tính đồng bộ với các luật thuế gián thu khác (như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt), tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý thu thuế từ khâu sản xuất/nhập khẩu và tránh gây phản ứng tâm lý tiêu cực từ người tiêu dùng. Hiện tượng người tiêu dùng không nhận biết nghĩa vụ thuế bắt nguồn từ tính chất thuế ẩn và công tác tuyên truyền, cần khắc phục bằng các giải pháp truyền thông giáo dục thay vì luật hóa khái niệm.
2. Khóa luận chỉ ra nguyên nhân pháp lý nào khiến số thu thuế bảo vệ môi trường đối với thuốc bảo vệ thực vật gần như bằng 0?
Do có sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật: Danh mục "thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng" trước đây do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành đã bị bãi bỏ/thay thế qua các thông tư chuyên ngành (như Thông tư số 03/2016/TT-BNNPTNT), khiến cơ quan thuế không còn căn cứ pháp lý để xác định mặt hàng chịu thuế trên thực tế. Ngoài ra, một số hóa chất chịu thuế tồn tại trong biểu thuế nhưng đã không còn lưu hành trên thị trường.
3. Sự bất hợp lý trong tương quan mức thuế suất giữa than đá, xăng và dầu được tác giả phân tích như thế nào?
Theo dữ liệu của EIA, than antraxit có lượng phát thải CO2 trên một đơn vị nhiệt cao gấp xấp xỉ 1,5 lần xăng dầu và phát sinh nhiều khí SOx, NOx gây ô nhiễm không khí nặng nề, nhưng mức thuế BVMT áp dụng chỉ là 30.000 đồng/tấn (nằm ở khoảng giữa khung). Ngược lại, xăng chịu mức thuế 4.000 đồng/lít (kịch khung tối đa). Mặt khác, dầu có mức độ phát thải ô nhiễm cao hơn xăng nhưng thuế suất áp dụng đối với dầu diesel lại chỉ bằng một nửa so với xăng (2.000 đồng/lít so với 4.000 đồng/lít), vi phạm nguyên tắc mức thuế phải tương ứng với mức độ gây tác động xấu đến môi trường.
4. Vì sao phương thức tính thuế túi ni lông theo khối lượng (kg) lại bị đánh giá là chưa bảo đảm công bằng?
Pháp luật hiện hành tính thuế theo đơn vị kg thay vì theo số lượng cái/túi. Cùng một khối lượng 1 kg, túi ni lông mỏng có số lượng túi nhiều hơn gấp nhiều lần so với túi dày, đồng nghĩa với việc phát tán ra môi trường số lượng rác thải nhựa lớn hơn và khó thu gom hơn, nhưng lại chịu cùng một số tiền thuế. Bên cạnh đó, mức thuế kịch khung 50.000 đồng/kg chia bình quân chỉ khoảng 500–700 đồng/túi loại 5kg (và 200–500 đồng/túi mỏng), mức thu này quá thấp để tác động đến hành vi tiêu dùng của người dân.
5. Khóa luận đề xuất bổ sung những mặt hàng cụ thể nào vào diện chịu thuế bảo vệ môi trường?
Tác giả đề xuất nghiên cứu mở rộng sang: (i) Thuốc lá (chứa 7.000 chất độc hại và gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng do tỷ lệ hút thuốc thụ động cao); (ii) Các sản phẩm nhựa dùng một lần như hộp xốp, ly nhựa, chai nhựa, ống hút nhựa; (iii) Pin, hóa chất tẩy rửa công nghiệp và chất thải phóng xạ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Nguyệt Mai đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá sâu sắc thực trạng áp dụng Luật Thuế BVMT năm 2010 tại Việt Nam sau một thập kỷ thi hành. Bằng phương pháp nghiên cứu luật học kết hợp đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và số liệu phát thải khoa học, công trình đã chỉ rõ những điểm nghẽn về đối tượng chịu thuế, sự mất cân đối nguồn thu và tính bất hợp lý của biểu khung thuế tuyệt đối. Hệ thống 7 nhóm kiến nghị lập pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ khoa học có giá trị thiết thực cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Thuế BVMT nhằm phát huy đúng vai trò của công cụ kinh tế trong chiến lược phát triển bền vững quốc gia.