Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân tại Thành phố Hà Nội" được tác giả Vũ Thùy Linh (Khoa Luật – Học viện Ngân hàng) thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Mai Dung vào tháng 05/2022. Nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh kinh tế số bùng nổ mạnh mẽ tại Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn chuyển dịch thói quen mua sắm sang trực tuyến sau đại dịch Covid-19.
-
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn:
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước (NSNN). Năm 2021, tổng thu NSNN do ngành thuế quản lý ước đạt 1.000 tỷ đồng, bằng 115,9% dự toán pháp lệnh (vượt 177.300 tỷ đồng).
- Tính đến tháng 06/2021, Việt Nam có gần 70 triệu người sử dụng Internet, trong đó 44,8 triệu người tham gia mua sắm trực tuyến. Theo thống kê của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số cùng các đối tác công nghệ, 60% giao dịch mua sắm trực tuyến diễn ra qua tài khoản cá nhân, fanpage, hội nhóm trên mạng xã hội (MXH); các sàn thương mại điện tử (TMĐT) chiếm 40% còn lại.
- Tại Thành phố Hà Nội, cơ quan chức năng ghi nhận khoảng 32.800 cá nhân, hộ kinh doanh bán hàng online, trong đó xác minh được 3.388 cơ sở có doanh thu trên 100 triệu đồng/năm thuộc diện quản lý thuế. Dữ liệu từ Cục Thuế Hà Nội thu thập được của 1.194 cá nhân kinh doanh online đạt tổng doanh thu 3.614 tỷ đồng, dự kiến số thuế phải thu là 253 tỷ đồng (tính theo tỷ lệ thuế suất 7% đối với dịch vụ quảng cáo). Tuy nhiên, số liệu báo cáo tổng kết năm 2021 cho thấy toàn thành phố mới có 1.332 người nộp thuế (NNT) với tổng số thuế nộp đạt 12 tỷ đồng. Sau đợt rà soát, có 61 cá nhân tự nguyện kê khai nộp 55 tỷ đồng (đặc biệt có 2 cá nhân nộp hơn 40 tỷ đồng).
- Hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân mang tính "ảo", không đòi hỏi địa điểm kinh doanh cố định, dễ thay đổi, xóa dấu vết dữ liệu. Mặt khác, thói quen sử dụng tiền mặt còn phổ biến (chỉ 20% chi tiêu qua tài khoản ngân hàng, 80% giao dịch còn lại dùng tiền mặt; 85% giao dịch ATM là rút tiền) dẫn đến tình trạng thất thu thuế TNCN và thuế GTGT rất lớn. Hệ thống pháp luật quản lý thuế hiện hành đã có Luật Quản lý thuế năm 2019 nhưng chủ yếu tập trung điều chỉnh các sàn TMĐT thông qua Nghị định 52/2013/NĐ-CP và Nghị định 85/2021/NĐ-CP, trong khi hoạt động bán hàng qua MXH vẫn chưa có văn bản hướng dẫn chuyên biệt.
-
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục tiêu: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân tại TP. Hà Nội, so sánh với kinh nghiệm quốc tế về thuế TNCN và thuế GTGT, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật quản lý thuế TNCN, thuế GTGT đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân;
- Phân tích thực trạng quy định và thực trạng thi hành pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân tại Thành phố Hà Nội;
- Đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật quản lý thuế trên địa bàn.
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quy định pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân (cung cấp hàng hóa, dịch vụ trên website bán hàng, sàn giao dịch TMĐT, sàn đấu giá trực tuyến, mạng xã hội); thực trạng quản lý thuế tại địa bàn TP. Hà Nội; kinh nghiệm quốc tế của một số quốc gia.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Pháp luật quản lý thuế TNCN và thuế GTGT đối với cá nhân kinh doanh trực tuyến; thực trạng thi hành và giải pháp hoàn thiện.
- Không gian: Địa bàn Thành phố Hà Nội, đặt trong mối tương quan so sánh với pháp luật của Liên minh Châu Âu (EU), Trung Quốc và Nhật Bản.
- Thời gian: Tập trung vào các quy định pháp luật kể từ khi Luật Quản lý thuế năm 2019 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/07/2020 đến thời điểm hoàn thành khóa luận (tháng 05/2022).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân
Chương 1 làm rõ các khái niệm nền tảng, đặc điểm, nội dung quản lý thuế, các yếu tố tác động và bài học kinh nghiệm quốc tế:
- Nội dung quản lý thuế: Bao gồm 5 trụ cột: (1) Quản lý đăng ký thuế; (2) Quản lý khai, nộp thuế; (3) Quản lý thông tin NNT; (4) Kiểm tra, thanh tra thuế và xử lý nợ thuế; (5) Giải quyết khiếu nại, tố cáo và dịch vụ hỗ trợ NNT.
- Phân biệt Website TMĐT bán hàng và Sàn giao dịch TMĐT:
| Tiêu chí |
Website thương mại điện tử |
Sàn giao dịch thương mại điện tử |
| Khái niệm |
Là website TMĐT do thương nhân, tổ chức, cá nhân thiết lập để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình. |
Là website TMĐT do thương nhân, tổ chức thiết lập để cung cấp môi trường cho các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động thương mại. |
| Cơ sở pháp lý |
Khoản 7 Điều 1 Nghị định 85/2021/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 52/2013/NĐ-CP. |
Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử. |
| Chức năng |
Chỉ bán một loại hoặc một lĩnh vực sản phẩm cụ thể của chính đơn vị thiết lập website. |
Cung cấp môi trường đa dạng nhiều lĩnh vực, dịch vụ (ví dụ: Amazon, Alibaba, Lazada...). |
| Chủ thể cung cấp |
Cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh trực tuyến. |
Chỉ doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh mới được phép thành lập sàn. |
| Số lượng người tham gia |
Hạn chế, chủ yếu là khách hàng tiếp cận sản phẩm của chủ sở hữu website. |
Rất lớn, gồm doanh nghiệp lập sàn, các thương nhân/cá nhân bán hàng và khách hàng. |
- Bảy yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật quản lý thuế: (1) Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và các hiệp định FTA (EVFTA); (2) Cơ chế quản lý thuế do Nhà nước lựa chọn; (3) Quy định nội dung của các sắc thuế TNCN và GTGT; (4) Ý thức pháp luật và trách nhiệm của NNT; (5) Trình độ và phẩm chất đạo đức của cán bộ, cơ quan quản lý thuế; (6) Biện pháp quản lý thuế (đặc biệt là quản lý rủi ro tuân thủ); (7) Khả năng kiểm soát thu nhập của NNT trong nền kinh tế còn dùng nhiều tiền mặt.
- Kinh nghiệm quốc tế:
- Liên minh Châu Âu (EU): Đức sử dụng công cụ tìm kiếm Xpider để quét các website kinh doanh chưa kê khai thuế; Pháp sử dụng các công cụ Copernic Agent, Metacrawler, web scrap để trích xuất dữ liệu mạng phục vụ thanh tra máy tính.
- Trung Quốc: Yêu cầu bắt buộc người bán hàng online phải cung cấp tên thật và số chứng minh thư từ cuối năm 2012; ứng dụng phần mềm lọc hồ sơ thanh tra tự động và đối chiếu qua hệ thống Microsoft Access/Excel.
- Nhật Bản: Thành lập Tổ quản lý thuế chuyên trách TMĐT; phối hợp với ngân hàng truy vết tài khoản thanh toán; thực hiện nghiệp vụ mua sắm thử để xác định nhà cung cấp; ứng dụng phần mềm khôi phục dữ liệu trên đĩa cứng; định kỳ đào tạo công nghệ thông tin cho kiểm tra viên.
- Bài học cho Việt Nam: Hoàn thiện khung khổ pháp lý chuyên biệt cho kinh doanh trên mạng xã hội; đẩy mạnh hóa đơn điện tử; xây dựng kho dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI); kiện toàn bộ máy cơ quan thuế theo hướng chuyên môn hóa.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân tại Thành phố Hà Nội hiện nay
Chương 2 phân tích các quy định pháp luật thực định về thủ tục và giám sát thi hành, đồng thời đánh giá tình hình thực tế tại TP. Hà Nội:
- Thực trạng thủ tục hành chính thuế:
- Đăng ký thuế: Áp dụng mã số thuế (MST) cá nhân duy nhất trọn đời. Cá nhân có thể nộp trực tiếp hoặc kê khai trực tuyến qua cổng điện tử
http://tncnonline.vn. Cục Thuế Hà Nội đã phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tự động hóa quy trình phân cấp và cấp mã số thuế.
- Kê khai, nộp thuế: Thực hiện theo nguyên tắc tự khai, tự tính và tự chịu trách nhiệm. Cá nhân cư trú kinh doanh trực tuyến có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở lên thuộc diện chịu thuế TNCN và thuế GTGT. Quy định điều chỉnh đối tượng cá nhân không cư trú và nhà thầu nước ngoài (như nhà cung cấp dịch vụ nền tảng số xuyên biên giới) thông qua nghĩa vụ khấu trừ nộp thay hoặc kê khai trực tiếp qua cổng thông tin của Bộ Tài chính.
- Hành vi trốn thuế: Tác giả chỉ rõ 2 dạng vi phạm phổ biến: (1) Hoàn toàn không đăng ký, không kê khai thuế do ẩn danh trên không gian mạng; (2) Có kê khai nhưng kê khai thấp hơn doanh thu thực tế để giảm số thuế phải nộp.
- Thực trạng giám sát và đảm bảo thi hành: Quy định trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan thuế với các ngân hàng thương mại, nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, đơn vị trung gian thanh toán nhằm truy xuất dòng tiền và xác thực danh tính NNT.
- Số liệu thi hành pháp luật thuế tại Hà Nội và các địa phương:
| Tiêu chí / Phạm vi |
Số liệu ghi nhận trong văn bản |
Đơn vị cung cấp / Bối cảnh |
| Cá nhân, hộ bán hàng online tại Hà Nội |
32.800 cơ sở (3.388 cơ sở doanh thu > 100 triệu/năm) |
Báo Lao động (2021) |
| Dữ liệu cá nhân online do Cục Thuế HN thu thập |
1.194 cá nhân (Doanh thu: 3.614 tỷ đồng; Dự kiến thuế: 253 tỷ đồng) |
Tỷ lệ thuế suất dịch vụ quảng cáo 7% |
| Số NNT nộp thuế năm 2021 theo báo cáo |
1.332 người nộp thuế (Tổng tiền thuế: 12 tỷ đồng) |
Cục Thuế TP. Hà Nội (2021) |
| Cá nhân tự nguyện đến kê khai nộp thuế |
61 cá nhân (Tổng số thuế: 55 tỷ đồng; 2 cá nhân nộp > 40 tỷ đồng) |
Cục Thuế TP. Hà Nội (2021) |
| Số thu, truy thu và phạt thuế TMĐT tại 3 địa bàn lớn |
Tổng cộng: 240,8 tỷ đồng (Hà Nội: 148 tỷ đồng; TP.HCM: 68,55 tỷ đồng; Đà Nẵng: 24,33 tỷ đồng) |
Tổng cục Thuế (2021) |
| Số xử lý thu 4 tháng đầu năm 2021 toàn ngành |
Hơn 130 tỷ đồng (kê khai bổ sung, truy thu, phạt) |
Tổng cục Thuế (2021) |
| Vụ việc vi phạm livestream điển hình (Lào Cai, 7/2020) |
Kho 10.000m2; > 1.000 đơn/ngày; doanh thu 2 năm > 649 tỷ đồng |
Hàng lậu, không nộp thuế (Báo CAND) |
- Đánh giá hạn chế: Công tác quản lý vẫn dừng lại ở việc kiểm soát thu nhập danh nghĩa thay vì thu nhập thực tế. Nguyên nhân do thiếu cơ chế pháp lý chuyên biệt điều chỉnh việc bán hàng qua mạng xã hội, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe, quy định mức giảm trừ gia cảnh cào bằng chưa theo sát đặc thù từng nhóm ngành kinh doanh, cùng sự chậm trễ trong việc triển khai hóa đơn điện tử đồng bộ.
Chương 3: Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân và những kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật tại Thành phố Hà Nội
Chương 3 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp toàn diện từ cấp độ lập pháp đến thực thi hành chính:
- Bốn định hướng hoàn thiện:
- Đặt trong tiến trình cải cách hệ thống thuế quốc gia tổng thể;
- Phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong nước và hội nhập quốc tế (cam kết EVFTA);
- Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng để người nộp thuế dễ hiểu, dễ thực hiện và dễ giám sát;
- Gắn liền với việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của người dân.
- Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Quản lý đối tượng chịu thuế: Sớm ban hành Nghị định, Thông tư hướng dẫn riêng về quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên mạng xã hội; mở rộng diện đăng ký thuế bắt buộc cho tất cả các chủ thể tham gia kinh doanh số.
- Bổ sung quyền và nghĩa vụ cho cơ quan thuế: Quy định rõ quyền yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ mạng, ngân hàng, sàn TMĐT cung cấp dữ liệu giao dịch định kỳ; xác định trách nhiệm khấu trừ thuế tại nguồn của các tổ chức trung gian.
- Tăng cường hóa đơn điện tử: Triển khai bắt buộc hóa đơn điện tử đối với 100% cá nhân kinh doanh trực tuyến; thiết lập chế tài quản lý hóa đơn chứng từ đối với các đơn hàng vận chuyển tận nơi.
- Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi tại TP. Hà Nội:
- Tăng cường các biện pháp kỹ thuật quản lý thông tin NNT thông qua tích hợp dữ liệu Big Data và AI.
- Đề nghị và phối hợp với các tổ chức sở hữu mạng xã hội lớn (Facebook, Google...) thành lập văn phòng đại diện chính thức tại Việt Nam.
- Tăng cường kiểm tra, thanh tra thuế chuyên đề và kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
- Nâng cao trình độ nghiệp vụ công nghệ, ngoại ngữ và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ công chức thuế.
- Đổi mới hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật thuế trực tuyến nhằm nâng cao tính tự nguyện tuân thủ.
- Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành đồng bộ giữa Cục Thuế Hà Nội với Công an, Ngân hàng Nhà nước, Sở Công Thương, Sở Thông tin và Truyền thông cùng các doanh nghiệp bưu chính, giao hàng.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả chính: Khóa luận đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở pháp lý và số liệu thực tiễn phản ánh khoảng cách giữa quy mô kinh tế trực tuyến và kết quả thu thuế tại Hà Nội. Nghiên cứu chỉ rõ dù đã truy thu được hàng trăm tỷ đồng từ các đối tượng doanh thu lớn, nguồn thu thuế từ cá nhân bán hàng online qua mạng xã hội vẫn bị thất thoát do hạn chế về công cụ kiểm soát dòng tiền và tính nặc danh của giao dịch số.
- Hệ thống giải pháp và kiến nghị: Tác giả đề xuất các giải pháp lập pháp (ban hành quy định riêng cho kinh doanh qua mạng xã hội, bắt buộc hóa đơn điện tử) kết hợp với các giải pháp hành chính công nghệ (công cụ truy vết tương tự Xpider của Đức, phần mềm khôi phục dữ liệu như Nhật Bản, liên thông dữ liệu liên ngành).
- Đóng góp của khóa luận: Kế thừa các công trình nghiên cứu đi trước của TS. Nguyễn Thị Mai Dung (2018) và TS. Phạm Nữ Mai Anh (2019), khóa luận đã cập nhật bối cảnh pháp lý mới theo Luật Quản lý thuế 2019 và Nghị định 85/2021/NĐ-CP. Nghiên cứu chuyển dịch trọng tâm phân tích từ khu vực doanh nghiệp sang nhóm đối tượng cá nhân kinh doanh trên mạng xã hội và sàn TMĐT tại một địa bàn đô thị trọng điểm là Thành phố Hà Nội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn TP. Hà Nội trong khoảng thời gian từ khi Luật Quản lý thuế 2019 có hiệu lực (01/07/2020) đến tháng 05/2022. Do tính chất phân tán và bảo mật của dữ liệu mạng xã hội, một số số liệu về doanh thu thực tế chưa thể thống kê toàn diện mà chủ yếu dựa trên các báo cáo rà soát của cơ quan thuế.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát việc áp dụng Thông tư 80/2021/TT-BTC và lộ trình phủ sóng hóa đơn điện tử trên phạm vi toàn quốc; nghiên cứu cơ chế quản lý thuế đối với các mô hình kinh tế số mới phát sinh như phát trực tiếp (livestream) xuyên biên giới, kinh tế chia sẻ, tài sản số và các dịch vụ nội dung số trên nền tảng xuyên biên giới.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng, Quản lý thuế, Tài chính công; các nhà nghiên cứu về pháp luật thương mại điện tử; cán bộ nghiệp vụ tại các chi cục và Cục Thuế địa phương.
- Nội dung giá trị: Khung lý luận phân biệt rõ ràng giữa website TMĐT bán hàng và sàn giao dịch TMĐT; hệ thống tổng hợp kinh nghiệm quản lý thuế và công nghệ rà soát dữ liệu của EU, Trung Quốc, Nhật Bản; bức tranh số liệu thực tế về công tác quản lý thuế cá nhân kinh doanh trực tuyến tại Thành phố Hà Nội.
Câu hỏi thường gặp
-
Cá nhân kinh doanh trực tuyến tại Việt Nam đạt mức doanh thu bao nhiêu thì phải chịu nghĩa vụ thuế TNCN và thuế GTGT?
Trả lời: Theo quy định của Luật Quản lý thuế 2019 và Luật Thuế TNCN được trích dẫn trong khóa luận, cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất kinh doanh (bao gồm kinh doanh trực tuyến) có tổng doanh thu trong năm dương lịch trên 100 triệu đồng thuộc diện phải kê khai và nộp thuế TNCN và thuế GTGT (đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế).
-
Cục Thuế Hà Nội đã thu thập dữ liệu và xử lý thuế đối với cá nhân kinh doanh online với các con số cụ thể nào?
Trả lời: Cục Thuế TP. Hà Nội đã thu thập dữ liệu của 1.194 cá nhân với tổng doanh thu 3.614 tỷ đồng, dự kiến số thuế 253 tỷ đồng. Thực tế báo cáo tổng kết 2021 ghi nhận 1.332 NNT nộp 12 tỷ đồng; đợt rà soát sau đó có 61 cá nhân tự giác nộp 55 tỷ đồng (trong đó 2 cá nhân nộp trên 40 tỷ đồng). Tổng số tiền truy thu và phạt thuế TMĐT tại Hà Nội đạt 148 tỷ đồng.
-
Các nước EU đã sử dụng những công cụ kỹ thuật cụ thể nào để kiểm soát thuế kinh doanh trực tuyến?
Trả lời: Đức sử dụng công cụ Xpider để rà quét các trang web kinh doanh nhằm nhận diện hoạt động chưa kê khai thuế; Pháp sử dụng các công cụ Copernic Agent, Metacrawler và kỹ thuật web scrap để trích xuất dữ liệu từ các website và cơ sở dữ liệu phục vụ công tác thanh tra trên máy tính.
-
Sự khác nhau cơ bản về mặt pháp lý giữa website TMĐT bán hàng và sàn giao dịch TMĐT là gì?
Trả lời: Căn cứ Nghị định 52/2013/NĐ-CP và Nghị định 85/2021/NĐ-CP, website TMĐT bán hàng do cá nhân hoặc tổ chức thiết lập để bán hàng hóa/dịch vụ của chính mình. Trong khi đó, sàn giao dịch TMĐT là môi trường do doanh nghiệp đăng ký kinh doanh thiết lập nhằm cho phép các thương nhân, cá nhân khác mở gian hàng và tiến hành quy trình mua bán.
-
Vụ việc vi phạm thuế điển hình trong hoạt động livestream bán hàng được văn bản nhắc tới có quy mô ra sao?
Trả lời: Đó là vụ việc kho hàng lậu rộng hơn 10.000m2 tại Lào Cai bị phát hiện vào tháng 7/2020. Cơ sở này bán lẻ qua livestream Facebook đạt hơn 1.000 đơn/ngày, doanh thu bán lẻ hàng tháng trên 10 tỷ đồng; dữ liệu sao kê ngân hàng trong gần 2 năm ghi nhận doanh thu hơn 649 tỷ đồng nhưng hoàn toàn không thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Vũ Thùy Linh đã cung cấp một công trình nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành nghĩa vụ thuế đối với cá nhân kinh doanh trực tuyến tại Thành phố Hà Nội. Bằng việc phân tích các lỗ hổng quản lý bắt nguồn từ đặc tính ảo của giao dịch mạng và thói quen thanh toán tiền mặt, tác giả đã đối chiếu hiệu quả kinh nghiệm công nghệ từ EU, Trung Quốc và Nhật Bản. Công trình đề xuất đồng bộ các giải pháp lập pháp và nâng cao năng lực thực thi hành chính, tạo nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác nghiên cứu và quản lý thuế kinh tế số tại Việt Nam.