Chương 1. Những vấn đề lý luận của pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân Chương 2. Thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân tại Thành phố Hà Nội hiện nay Chương 3. Giải pháp góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân và kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật tại Thành phố Hà Nội.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRỰC TUYẾN CỦA CÁ NHÂN 1. Lý luận về quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân 1. Khái niệm quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân Ở Việt Nam hiện tại, thuế đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội bởi: thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, là công cụ cân bằng thu nhập, thực hiện công bằng xã hội. Do đó, không chỉ nước ta mà bất kỳ Nhà nước nào trên thế giới cũng rất mong muốn tìm ra một phương thức quản lý thuế hiệu quả khi hoạt động kinh doanh của cá nhân trong xã hội ngày càng đa dạng và khó kiểm soát, nhất là đối với hoạt động kinh doanh trực tuyến (KDTT).
Để hiểu được một cách toàn diện khái niệm quản lý thuế đối với hoạt động KDTT của cá nhân, trước hết tác giả đi sâu phân tích để trả lời hai câu hỏi chính: Quản lý thuế là gì? Hiểu như thế nào về hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân? a. Khái niệm quản lý thuế Thuế là khoản thu bắt buộc mang tính cưỡng chế bằng sức mạnh của nhà nước mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định (Học viện ngân hàng, 2016). Có thể khẳng định thuế là nguồn thu chủ yếu và to lớn của NSNN do vậy QLT là hoạt động tất yếu. Hiện nay, hoạt động QLT được nghiên cứu dựa trên hai khía cạnh, tùy tình hình phát triển kinh tế và điều kiện nhất định mà mỗi quốc gia lựa chọn một khía cạnh khác nhau để thể hiện vào các văn bản pháp lý có giá trị cao của mình.
Hiểu theo nghĩa rộng, QLT là tất cả các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có liên quan đến thuế và hoạt động của cơ quan quyền lực có nhiệm vụ quản lý hành chính. QLT không chỉ bao gồm hoạt động tổ chức điều hành quá trình thu nộp thuế vào NSNN mà còn bao gồm hoạt động xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành pháp luật thuế và cả hoạt động kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền thuế của các tổ chức thụ hưởng NSNN (Nguyễn Thị Mai Dung, 2018). 12 Nếu nhìn nhận ở góc độ hẹp hơn, ta có thể thấy rằng QLT chính là quản lý hành chính nhà nước về thuế, bao gồm việc tổ chức, quản lí, điều hành quá trình thu nộp thuế, hay nói một cách khác đó là hoạt động chấp hành của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà cụ thể là hệ thống cơ quan quản lý thuế từ trung ương đến địa phương trong quản lý thu, nộp thuế cho Nhà nước từ tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế đã được xác định trong các luật thuế (Học viện ngân hàng, 2016). Mặc dù là một hoạt động rất quan trọng nhưng hiện nay, tại các văn bản pháp lý hiện hành về thuế, nhà làm luật vẫn chưa đưa ra được một khái niệm cụ thể về QLT.
Điều 4 Luật quản lý thuế năm 2019 mới chỉ liệt kê ra nội dung quản lý thuế. Do vậy, có thể xác định rằng, pháp luật Việt Nam hiện hành đang lựa chọn xác định hoạt động QLT theo nghĩa hẹp. Theo tác giả, việc xác định hiểu hoạt động QLT theo nghĩa hẹp là hoàn toàn hợp lý bởi thực chất các hoạt động xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành pháp luật thuế, xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền thuế thuộc phạm trù pháp luật quản lý thuế. Trong phạm vi nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp này, tôi cho rằng hoạt động QLT và pháp luật quản lý thuế không đồng nhất nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Dựa trên kết quả nghiên cứu hoạt động QLT đề tài đưa ra khái niệm quản lý thuế như sau:“Quản lý thuế là quá trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức, thực hiện các quy định pháp luật về thuế thông qua việc tác động lên các tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế để họ thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với Nhà nước”. Khái niệm về hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân Nhìn chung, hoạt động KDTT của cá nhân bao gồm các hoạt động: kinh doanh thông qua MXH; kinh doanh thông qua sàn giao dịch TMĐT và kinh doanh qua website TMĐT chuyên bán mặt hàng của chính cá nhân tạo nên website đó. Dưới đây tác giả đưa ra biểu đồ thống kê các giao dịch mua bán trực tuyến hiện nay như sau: Bảng 1. Các kênh mua sắm trực tuyến hiện nay 13 80% 70% 60% 50% 40% 30% 20% 10% 0% Website TMĐT Diễn đàn, MXH Các ứng dụng TMĐT di Hình thức khác động Năm 2018 Năm 2019 Nguồn: Sách trắng thương mại điện tử Việt Nam năm 2020 Về mặt khái niệm, hiện nay chưa có bất kỳ định nghĩa cụ thể nào trong hệ thống các văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến “hoạt động kinh doanh trực tuyến của cá nhân”.
Tuy vậy các cụm từ khóa như “kinh doanh”, “mạng xã hội”, “sàn giao dịch thương mại điện tử”, “website” đều được giải thích rất chi tiết trong các văn bản pháp luật có liên quan. Cụ thể như sau: Luật Doanh nghiệp 2020 đã giải thích rất cụ thể khái niệm “kinh doanh”. Theo đó: “kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận (Quốc hội, 2020). Đặt vào bối cảnh hoạt động KDTT hiện nay, hoạt động kinh doanh chủ yếu xoay quanh việc cá nhân tiêu thụ sản phẩm sẵn có hoặc cung ứng dịch vụ trên các nền tảng số.
Theo quy định tại khoản 22 Điều 3 Nghị định 72/2013 NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, MXH được định nghĩa như sau: “Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức 14 dịch vụ tương tự khác”. Khái niệm này đã thu hút được sự quan tâm của nhiều người sử dụng khi nghiên cứu về MXH và các vấn đề xoay quanh nó. Có thể hiểu khái quát rằng mạng xã hội chính là một hệ thống thông tin lớn trên internet, cung cấp những thông tin đó cho cộng đồng mạng dưới nhiều hình thức khác nhau như trò chuyện trực tuyến, qua âm thanh, hình ảnh… Tùy từng mục đích khác nhau mỗi người sẽ có nhu cầu tìm kiếm và tiếp cận các thông tin khác nhau. Hoạt động KDTT của cá nhân ở Việt Nam hiện nay chủ yếu diễn ra trên các nền tảng mạng xã hội lớn như Facebook, Instagram, Zalo.
với hình thức cung cấp dịch vụ chính là người bán quảng bá các sản phẩm, mặt hàng, dịch vụ mình đang có đến người mua thông qua các bài đăng, bài quảng cáo, người mua sẽ trực tiếp liên hệ với người bán dựa trên thông tin người bán để lại, việc trao đổi, mua bán sẽ được thực hiện bằng việc gọi điện thoại hoặc hai bên trao đổi các thông tin qua mục tin nhắn của ứng dụng đó, bên cạnh đó hầu hết các mạng xã hội ngày nay đều có tính năng bảo mật thông tin, do vậy người bán hàng có thể dễ dàng ẩn các bình luận ở chế độ chỉ mình tôi hay dễ dàng xóa bỏ các tin nhắn đã chốt đơn với khách hàng. Có thể thấy rằng, việc cá nhân kinh doanh trên MXH tuy có hoạt động giới thiệu dịch vụ diễn ra công khai, thu hút được số lượng khách hàng quan tâm rất lớn nhưng việc kiểm soát cá nhân đó bán được bao nhiêu mặt hàng, thu được bao nhiêu lợi nhuận để đánh thuế hầu như rất khó khăn. Đây chính là một thách thức lớn đối với cơ quan thuế trong việc kiểm soát thu nhập của cá nhân, nhất là với cá nhân có hoạt động kinh doanh trên MXH. Khái niệm Website thương mại điện tử (hay gọi tắt là website) được nêu ra tại Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử như sau: “Website thương mại điện tử (dưới đây gọi tắt là website) là trang thông tin điện tử được thiết lập để phục vụ một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ, từ trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ đến giao kết hợp đồng, cung ứng dịch vụ, thanh toán và dịch vụ sau bán hàng” (Quốc hội, 2013).
Hiểu theo một cách chung nhất, website TMĐT là các website do chính cá nhân kinh doanh lập ra để bày bán các mặt hàng, cung ứng các dịch vụ của chính bản thân mình. Khi cá nhân thiết lập website TMĐT bán hàng đều phải thông báo với Bộ Công Thương. Do vậy, việc bán hàng, cung ứng dịch vụ của cá nhân trên website hiện đã được Nhà nước ta quản lý chặt chẽ. 15 Cũng giống như “website thương mại điện tử”, “sàn giao dịch thương mại điện tử” hiện nay cũng được quy định tại Nghị định 52/2013/NĐ-CP về TMĐT.
Theo đó: “Sàn giao dịch thương mại điện tử là website thương mại điện tử cho phép các thương nhân, tổ chức, cá nhân không phải chủ sở hữu website có thể tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên đó”(Quốc hội, 2013). Hiện nay, nhiều công trình nghiên cứu khoa học cũng đưa ra các định nghĩa khác nhau về “sàn giao dịch thương mại điện tử”, tuy vậy, theo quan điểm của tác giả, khái niệm được nêu ra tại Nghị định 52/2013/NĐ-CP là phù hợp với tình hình thực tiễn nhất.