CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý thuế 1.1 Các công trình trên thế giới Patrick Forsat và Michel Bua (2013), trong nghiên cứu“Tax Administration Reform in the Francophone Countries of Sub-Saharan Africa” được công bố bởi IMF Working Paper, 07/2013 [49] đã viết: Vấn đề hiện đại hoá cơ cấu tổ chức, hiện đại hoá các quy trình quản lý trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) là trung tâm của cải cách quản lý. Thực tế nhiều quốc gia đã không nhận được nhiều những hiệu quả, tác dụng mà ứng dụng CNTT mang lại, không đạt mục tiêu hiện đại hóa trong quản lý thuế. Nguyên nhân là do thiếu chiến lược toàn diện trong ứng dụng CNTT vào cải cách quản lý thuế, chủ yếu là việc vội vàng trong xây dựng và cài đặt phần mềm quản lý thuế khi chưa có sự chuẩn bị kỹ về sự phù hợp với kiến trúc thượng tầng hệ thống liên quan.
Do đó, các gói phần mềm này thiếu đi sự đồng bộ chặt chẽ với các thay đổi về tổ chức và thủ tục quản lý thuế. Đồng thời, tác giả cũng đã nêu lên những thành công trong việc cài đặt các phần mềm nổi tiếng đã phát huy tác dụng ở các quốc gia phát triển. Các phần mềm này là có tính mở, thiết kế hệ thống tốt trên cơ sở của sự chuẩn bị kỹ lưỡng về thiết kế hệ thống và có thể đáp ứng được yêu cầu cải cách quản lý thuế như đánh giá rủi ro, hỗ trợ lập danh sách lựa chọn NNT có rủi ro cao để xây dựng các chương trình thanh tra, kiểm tra thuế, mở rộng thêm khả năng phân tích. Nilgün Serim, Betül İnam và Dilek Murat (2014), Factors Affecting Tax Compliance of Taxpayers: The Role of Tax Officer The Case of Istanbul and Canakkale, công bố trên Tạp chí Nghiên cứu kinh doanh và kinh tế [55].
Theo tác giả, để tăng tỷ trọng doanh thu thuế trong doanh thu thì tăng sự tuân thủ của NNT đối với việc đóng thuế. Các cán bộ thuế và các thủ trưởng của họ, những người có quan hệ trực tiếp với NNT cần phải có quan hệ tốt, có sự thông cảm, đối xử như nhau đối với từng NNT. Nghiên cứu cho rằng, tầm quan trọng của sự hài lòng của 10 luan an NNT đối với dịch vụ thuế đã tăng lên trong những cách tiếp cận quản lý thuế. Nhận thức đó gắn với dịch vụ do CQT cung cấp với yêu cầu tạo ra các dịch vụ nhanh hơn, hiệu quả hơn và minh bạch hơn.
Vai trò quan trọng trong điều tra xã hội học giúp đóng góp vào dữ liệu quản lý thuế với các hoạt động nghiên cứu sự tuân thủ thuế. CQT và NNT nên đồng hành cùng nhau. European commission (2015), Tax Reforms in EU Member States:2015 Report [48], báo cáo đã đề cập đến cải cách cơ cấu tổ chức của CQT được triển khai khi áp dụng cơ chế mới là tự khai, tự nộp thuế và những chức năng quản lý thuế mới. Theo đó, Romania đã tái cơ cấu cơ quan quản lý thuế quốc gia về quản lý ngân sách, lập một bộ phận mới với chức năng chống gian lận thuế.
Bulgaria đã lập một giám đốc chuyên môn để phát hiện gian lận thuế trong cơ quan thu thuế để củng cố bộ phận kiểm soát và thanh tra, kiểm tra thuế. Cộng hòa Séc lập một bộ phận duy nhất để thu thuế nội địa, thuế, phí hải quan. John Brondolo and Zhiyong Zhang (2016), Tax Administration Reform in China: Achievements, Challenges, and Reform Priorities [45] công bố bởi IMF Working Papers đã phân tích các quy trình lõi trong quản lý thuế của cơ quan Quản lý thuế Trung Quốc (SAT) đề xuất, bao gồm các khâu liên quan như: thanh tra, kiểm tra, thu nợ thuế, kê khai thuế, dịch vụ hỗ trợ NNT, giải quyết tranh chấp được tăng cường để đối phó với rủi ro tuân thủ thuế mới xuất hiện và tận dụng các bộ phận chức năng mới. Các quy trình lõi quản lý thuế đang được thử nghiệm và xu hướng được áp dụng thống nhất trên toàn Trung Quốc.
Bên cạnh đó, SAT cũng nâng cấp các quy trình lõi quản lý thuế trong hai giai đoạn bằng cách chuẩn hóa các quy trình xung quanh đang thực hiện tốt hiện nay của SAT. Các công trình trong nước Nguyễn Đình Chiến và các thành viên (2014), Nâng cao hiệu quả quản lý thuế ở Việt Nam [8]. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp học viện này đã đưa ra quan niệm về hiệu quả quản lý thuế, một thuật ngữ tuy không mới song đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm. Theo đó, nghiên cứu cho rằng hiệu quả quản lý 11 luan an thuế là kết quả so sánh giữa sự thay đổi thực tế đạt được của quan hệ quản lý thuế do sự tác động của pháp luật quản lý thuế mang lại phù hợp với mục đích, yêu cầu định hướng đạt được với mức chi phí để đạt được sự thay đổi thực tế đó.
Những hạn chế của thực trạng quản lý thuế đã được nêu ra như có sự hạn chế tiềm tàng của quản lý thuế ảnh hưởng đến thu NSNN thể hiện qua xem xét mối tương quan giữa thu NSNN từ thuế nội địa với sự ổn định của tổng thu nội địa trên GDP đã được chứng minh trong thời kỳ nghiên cứu. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế được đề xuất theo hướng hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý thuế các cấp của CQT. Tác giả Trần Thị Thương Huyền (2015) trong Luận văn Thạc sỹ kinh doanh và quản lý “Hoàn thiện công tác quản lý hoàn thuế GTGT tại Văn phòng Cục thuế Thành phố Hà Nội” [16]. Đề tài này đã đi nghiên cứu 01 sắc thuế trong phạm vi quản lý thuế tại 01 địa phương là Thành phố Hà Nội trong giai đoạn ngắn từ năm 2013-2015.
Đề tài đã phân tích, giá thực trạng công tác quản lý hoàn thuế GTGT đối với các DN thuộc văn phòng cục thuế TP. Hà Nội, qua đó chỉ ra những mặt đạt được và những tồn hạn chế cần khắc phục. Theo tác giả, những hạn chế trong công tác quản lý thuế GTGT là do những nguyên nhân sau: công tác tuyên truyền, hỗ trợ DN chưa đạt hiệu quả cao; số lượng cán bộ tại văn phòng cục thuế Hà Nội chưa đảm bảo yêu cầu công việc; sự phối hợp của CQT với các cơ quan quản lý khác trong việc trao đổi thông tin về các DN còn chưa thực sự được đồng bộ; trình độ chuyên môn của một số bộ phận không nhỏ cán bộ thuế; hành lang pháp lý liên quan đến hoàn thuế GTGT chưa động bộ và chưa thực sự được rõ ràng. Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoàn thuế GTGT tại cục thuế Thành phố Hà Nội trong thời gian tới, nhằm đảm bảo đúng mục tiêu khuyến khích, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh cho các DN thông qua hoàn thuế GTGT, đảm bảo không gây thất thoát cho NSNN.
Một trong những giải pháp trọng tâm luận văn đưa ra là hoàn thiện các quy định về pháp luật hoàn thuế GTGT theo hướng: (i) Thứ nhất, cần mở rộng hơn nữa đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, bằng cách mở rộng đối tượng chịu thuế đồng thời hạ thuế suất thuế gia 12 luan an tăng xuống mức độ thấp hơn; (ii) Thứ hai, cần quy hoạch và bổ sung lại những trường hợp không chịu thuế GTGT; (iii) Thứ ba, cần đẩy mạnh hoạt động sử dụng dịch vụ thuế điện tử, đăng ký thuế, khai thuế qua mạng internet; (iv) Thứ tư, cần hoàn thiện các quy định về hóa đơn, chứng từ, kiểm soát chặt chẽ hóa đơn, chứng từ để làm cơ sở cho phương pháp khấu trừ thuế, hạn chế thiểu số những NNT được áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT để xác định số thuế phải nộp chính xác hơn; (v) Thứ năm, cần áp dụng hình thức ngưỡng doanh thu để áp dụng hình thức kê khai thuế GTGT, trong đó có cân đối với cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước, tuân thủ luật pháp và thông lệ quốc tế. “Xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng công tác quản lý thu nợ” năm 2015 của là đơn vị chủ trì [31]. Đề tài giúp làm rõ những cơ sở lý luận, những vấn đề cơ bản về quản lý nợ và đánh giá chất lượng công tác quản lý thu nợ với những khái niệm cơ bản và vai trò của công tác quản lý thu nợ, hệ thống quản lý nợ thuế, tác động của việc áp dụng các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác quản lý thu nợ với tiêu chí đối với CQT và tiêu chí đối với NNT. Qua việc nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thu nợ về tình hình quản lý nợ thuế cho thấy còn một số hạn chế trong công tác này.
Đặc biệt, đề tài đã xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng công tác quản lý thu nợ trên cơ sở những yêu cầu đặt ra theo định hướng Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 và mục tiêu đề ra đối với công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế. Một số đề xuất cụ thể về tiêu chí đánh giá chất lượng công tác quản lý thu nợ như sau: Tỷ lệ tiền nợ thuế đối với số thực hiện thu của ngành thuế, tỷ lệ số tiền nợ thuế của năm trước thu được trong năm nay so với số nợ có khả năng thu tại thời điểm 31/12 năm trước; tỷ lệ tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh; tỷ lệ số hồ sơ gia hạn nộp thuế được giải quyết đúng hạn; tổng chi phí quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế trên tổng số tiền thuế nợ mà CQT đã thu được; tổng chi phí quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế trên tổng chi phí thường xuyên của ngành thuế; chi phí hoạt động bình quân cho một cán bộ bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; số người nợ thuế bình quân trên một cán bộ bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; số ngày trung bình để kết thúc một trường hợp; tỷ lệ thu nợ 13 luan an thuế bằng biện pháp quản lý nợ; tỷ lệ thu nợ thuế bằng áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ thuế; tiêu chí đánh giá mức độ hài lòng về công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế từ đó xếp hạng CQT.