chương 1, để nghiên cứu sâu về vấn đề quản lý hoạt động thực tập tốt nghiệp của sinh viên ngành quản trị kinh doanh, tác giả đã tập trung tìm hiểu nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện ở trong và ngoài nước về lĩnh vực quản lý thực tập tốt nghiệp ở bậc đại học, đặc biệt quản lý theo tiếp cận chuẩn đầu ra. Qua nghiên cứu các công trình, tác giả rút ra một số hướng nghiên cứu chủ yếu mà các công trình đã đề cập làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá tổng quan về quản lý hoạt động thực tập tốt nghiệp của sinh viên ngành quản trị kinh doanh theo tiếp cận chuẩn đầu ra.1 Các nghiên cứu về hoạt động thực tập tốt nghiệp theo tiếp cận chuẩn đầu ra Các nghiên cứu trong và ngoài nước về hoạt động thực tập tốt nghiệp trong những năm qua tập trung vào các nội dung chủ yếu như: mục tiêu, nội dung và hình thức thực tập tốt nghiệp.1 Nghiên cứu về mục tiêu của hoạt động thực tập tốt nghiệp của sinh viên theo tiếp cận chuẩn đầu ra Trên thế giới và tại Việt Nam cũng đã có nhiều tác giả đề cập đến mục tiêu của hoạt động thực tập tốt nghiệp của sinh viên trong chương trình giáo dục đại học. Các nghiên cứu của Wragg và Stenhouse (1997) chỉ ra yêu cầu chương trình giảng dạy phải đề cao tính thực tế, thực hành và khả năng vận dụng những ảnh hưởng đó vào thực tập và thực hành nghề nghiệp của sinh viên [135], lấy phương pháp tiếp cận quá trình lý thuyết và thực hành làm cơ sở để xây dựng chương trình giáo dục: “tối thiểu một chương trình giảng dạy nên cung cấp một cơ sở (đơn vị thực tế để thực tập) cho việc lập kế hoạch một khóa học, nghiên cứu thực nghiệm và xem xét các căn cứ của một chương trình giáo dục” [127, tr. Các tác giả Burns, Beauchesnes, Ryan-Krause và Sawin (2006), trong bài báo khoa học về giảng dạy lâm sàng (thuật 12 ngữ sử dụng trong các trường đào tạo y dược để chỉ hoạt động đào tạo thông qua thực hành, thực tập nghề nghiệp), đã đưa ra các mục tiêu của dạy học lâm sàng bao gồm: + Tăng cường kiến thức và kỹ năng cho sinh viên + Nâng cao năng lực và hiệu quả thực hiện công việc + Thúc đẩy hoạt động lâm sàng một cách độc lập + Tập cho sinh viên biết cách tối ưu hóa sức khỏe cho bệnh nhân.
+ Trở thành một bác sỹ có năng lực, nhân ái, độc lập và biết hợp tác. + Chuẩn bị tốt hơn, mang lại lợi thế cạnh tranh cho sinh viên để tham gia vào thị trường việc làm ([92], [101], [104], [107]). Sinh viên có kinh nghiệm thực tập cũng có thể đạt được lợi thế nghề nghiệp dưới dạng nhiều lời mời làm việc hơn [122], ít thời gian hơn để có được công việc phù hợp sau khi tốt nghiệp và tăng lương thưởng [103]. Thực tập sinh tin rằng các chương trình này kết tinh lợi ích và khả năng công việc của họ; tạo điều kiện cho ý thức phát triển nghề nghiệp và trách nhiệm cao hơn ([98], [109], [134]); tăng cường phát triển chuyên môn với việc cung cấp các liên hệ kinh doanh, kiến thức tốt hơn về thị trường việc làm [104] và cải thiện sự hài lòng trong công việc [81]; và hỗ trợ phát triển các kỳ vọng nghề nghiệp thực tế hơn nói chung [103].
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hoạt động thực tập tốt nghiệp của sinh viên cũng nhằm hoàn thiện các kỹ năng cá nhân, chẳng hạn như cải thiện sự tự tin, quản lý thời gian và giao tiếp bằng lời nói [96], các kỹ năng mà các nhà tuyển dụng tìm kiếm ([82], [94], [121]). 13 Ngoài mục tiêu mang lại lợi ích cho sinh viên, các nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy thực tập tốt nghiệp còn hướng tới mục tiêu mang lại lợi ích cho cả người sử dụng lao động và các cơ sở đào tạo ([80], [84], [97], [100]). Để tối đa hóa hiệu quả và lợi ích của các chương trình thực hành, thực tập, Amant (2003) cho rằng cần phải có sự phối hợp chặt chẽ cả ba bên từ trước khi hoạt động thực hành, thực tập diễn ra để đảm bảo người tham gia đồng ý về mục tiêu học tập và kết quả mong muốn [80]. Tại Việt Nam, dựa trên các góc độ và cách tiếp cận khác nhau, các cơ sở đào tạo đại học đã thiết lập mục tiêu thực tập nghề nghiệp của sinh viên khác nhau.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, mục tiêu thực tập cụ thể ở nhiều trường đại học thường được trình bày theo cấu trúc riêng nhưng đều nhằm giúp sinh viên tìm hiểu thực tế công việc chuyên môn; giúp trang bị cho người học các kỹ năng về quản lý, kỹ năng nghề nghiệp; bồi dưỡng nâng cao tình cảm, đạo đức nghề nghiệp; và tạo điều kiện cho sinh viên vận dụng kiến thức chuyên môn đã học vào thực tế, làm việc thực tế để rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp ([10], [16], [47]). Khi đánh giá về mục tiêu của thực tập trong các trường sư phạm, nghiên cứu của Mỵ Giang Sơn (2014) cho rằng, mục tiêu của thực tập chưa được thiết lập khoa học, thiếu cập nhật [47]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng (2017) cho rằng mục tiêu của mục tiêu của thực hành, thực tập trong ngành quản lý giáo dục là nhằm tìm hiểu môi trường thực tế, tiếp cận, làm quen, tập làm các công việc liên quan đến chuyên môn đang học, củng cố lý thuyết chuyên môn đã được học cũng như kiến thức thực tế; rèn luyện hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nghề đã được trang bị; hình thành thái độ, phẩm chất năng lực nghề nghiệp đảm bảo đạt được những kiến thức, kỹ năng và thái độ đã được xác định trong khung năng lực nghề nghiệp và các chuẩn đầu ra liên quan (chuẩn đầu ra chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra môn học) [16]. Nghiên cứu của Lê Thị Hà Giang (2018) đã hệ thống hoá các mục tiêu của thực tập sư phạm trong đào tạo giáo viên mầm non bao gồm: quán triệt nguyên lý giáo dục “học đi đôi với hành”, gắn lý thuyết với thực hành nhằm đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của nghề nghiệp; Giúp sinh viên nắm và vận dụng được các kiến thức, kỹ năng cơ bản của nghề nghiệp; Giúp sinh viên nắm vững được hoạt động giáo dục và những yêu cầu đặt ra đối với người giáo viên; Bồi dưỡng phẩm chất chính trị cho sinh viên; và giúp các chủ thể quản lý đào tạo giáo viên có cơ sở đánh giá chất lượng đào tạo giáo viên mầm non [10].
14 Nhìn chung, các nghiên cứu trong và ngoài nước đều chỉ ra sự cần thiết cũng như những mục tiêu thực tập tốt nghiệp cụ thể. Các mục tiêu thực tập tốt nghiệp được đưa ra tương đối thống nhất, hầu hết đều nhằm mang lại lợi ích thiết thực cho sinh viên và các bên liên quan. Tuy nhiên, các mục tiêu cụ thể được đưa ra chưa theo một quy chuẩn chung, có khi quá hẹp hoặc quá rộng mà trong phạm vi thực tập tốt nghiệp khó đáp ứng nổi. Các mục tiêu thực tập tốt nghiệp đối với ngành quản trị kinh doanh chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, chưa nhắm tới mục tiêu đạt được các chuẩn đào tạo, khung năng lực nghề nghiệp đã công bố.2 Nghiên cứu về nội dung và thời lượng thực tập tốt nghiệp theo tiếp cận chuẩn đầu ra Các nghiên cứu, quan điểm về các nội dung cần đưa vào hoạt động thực tập nghề nghiệp cho sinh viên theo hướng tiếp cận khung năng lực và chuẩn đầu ra được khá nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước phản ánh.
Tại Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây, nghiên cứu về hoạt động thực hành, thực tập của sinh viên sớm được quan tâm (Gutsev, Ivanôv, Socôlôv, Kuzmina, Abdoullina.), theo thời gian được nghiên cứu chuyên sâu và trở thành hệ thống lý luận, kinh nghiệm vững chắc ở Đông Âu, Cộng hòa dân chủ Đức (Iacovalev, Babansky.), Ba Lan (Januskiewiez, Denhec,. Các nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng của hoạt động thực hành, thực tập, tuy nhiên đó chỉ là những ý kiến ban đầu, những đề xuất sơ bộ và một số thử nghiệm trong thực tiễn như Adboullina (1976) đã nhận xét: “cho tới nay, thiếu hẳn một cơ sở khoa học của nội dung thực hành - thực tập, thiếu hẳn những tiêu chuẩn đánh giá thống nhất. Điều đó dẫn đến chỗ một số người làm công tác chỉ đạo thực hành đã xác định một cách chủ quan về nội dung và phương pháp tổ chức thực hành - thực tập. Tại các nước phương Tây, các nội dung thực tập dành cho khối ngành quản trị kinh doanh thường dựa trên mô hình năng lực được mô tả trong chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.
Năm 1982, Boyatzis và các cộng sự đã đưa ra Mô hình năng lực của nhà quản lý bao gồm năm nhóm năng lực: 1) Quản lý mục tiêu và hành động; 2) Lãnh đạo; 3) Quản lý nguồn nhân lực; 4) Chỉ đạo hoạt động của cấp dưới; và 5) Quan tâm đến những người xung quanh [87]. Năm 1987, các chuyên gia quản lý giáo dục dựa trên 250 tiêu chí về năng lực được đề xuất để xác định năng lực cần có của nhân sự quản lý. Kết quả có được khung năng lực 15 như sau: 1) Người điều khiển (Xác định tầm nhìn, lập kế hoạch và đạt mục tiêu; Thiết kế và tổ chức thực hiện; Ủy quyền có hiệu quả), 2) Người thực hiện (Làm việc có năng suất; củng cố môi trường làm việc tốt; quản lý được thời gian và sự căng thẳng (stress); 3) Người theo dõi (Theo dõi sự thực hiện của cá nhân; quản lý được sự thực hiện của tập thể; quản lý được sự thực hiện của tổ chức), 4) Người thúc đẩy (Xây dựng các đội làm việc; Sử dụng cách ra quyết định tập thể; quản lý xung đột), 5) Người đổi mới (Tư duy sáng tạo; Sống với sự thay đổi; Tạo ra sự thay đổi), và 6) Người môi giới (Xây dựng và củng cố một nền tảng quyền lực; Thương thảo, thỏa thuận và cam kết; Trình bày các ý tưởng) [37]. Năm 2010, Favia đã phát triển mô hình năng lực cho các nhà quản trị bán hàng trong thị trường khách hàng doanh nghiệp.
Kết quả cho thấy mô hình năng lực ban đầu cho các nhà quản trị bán hàng bao gồm 32 năng lực được gom vào thành sáu nhóm năng lực bao gồm: Xây dựng mối quan hệ, Lập kế hoạch, Giám sát, Chỉ đạo, Đánh giá và Khen thưởng [103].