Chương 1: THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP (TNDN) VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ TNDN ĐỐI VỚI DNNQD 1. Khái quát chung về thuế TNDN: 1. Lịch sử hình thành và phát triển của thuế TNDN: Thuế TNDN được hiểu là sắc thuế tớnh trờn thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kỡ tớnh thuế. Thuế TNDN (ở một số nước gọi là thuế thu nhập công ty, thuế công ty, hoặc thuế lợi tức) đã được áp dụng từ lâu ở nhiều nước trên thế giới.
Các nước áp dụng thuế TNDN sớm vào khoảng giữa và cuối thế kỷ XIX như: Anh, Nhật; một số nước khác áp dụng vào khoảng đầu thế kỷ XX như: Pháp, Thuỵ Sỹ, Liờn Xụ cũ, Trung Quốc… Mỗi nước khi áp dụng thuế TNDN đều có những hoàn cảnh riêng và với những quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong phân phối thu nhập của từng quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định nhưng nhìn chung xuất phát từ những lý do chủ yếu sau: - Thuế TNDN được sử dụng để điều tiết thu nhập của các doanh nghiệp nhằm góp phần đảm bảo công bằng xã hội trong khi thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước. - Thuế TNDN là một trong các nguồn thu quan trọng của NSNN và có xu hướng tăng lên cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển, đầu tư gia tăng, thu nhập của các doanh nghiệp và của các nhà đầu tư tăng lên làm cho khả năng huy động nguồn tài chính cho nhà nước thông qua thuế TNDN ngày càng ổn định và vững chắc. - Xuất phát từ yêu cầu phải quản lý các hoạt động đầu tư và kinh doanh trong từng thời kì nhất định, thông qua việc quy định đối tượng nộp thuế, thu SV: Đào Thị Hải Yến - Lớp: CQ44/01.02 4 Học viện Tài chính Luận văn Cuối khóa nhập chịu thuế, sử dụng thuế suất và các ưu đói thuế TNDN, nhà nước thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô.
Thuế TNDN ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng của NSNN ở các nước áp dụng chính sách thuế này. Ở Việt Nam, thuế TNDN có nguồn gốc từ khoản trích nộp lợi nhuận áp dụng đối với khi vực kinh tế quốc doanh và thuế lợi tức doanh nghiệp áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong giai đoạn từ năm 1953 đến trước 1/1/1990. Từ 1/1/1990 đến trước ngày 1/1/1999 thuế lợi tức được áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế thay cho chế độ trích nộp lợi nhuận áp dụng đối với khu vực kinh tế quốc doanh và thuế lợi tức doanh nghiệp áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Cơ sở tính thuế lợi tức là lợi tức doanh nghiệp và thuế suất.
Mức thuế suất phổ thông là 30%, 40%, 50%; từ năm 1993 các mức thuế suất được giảm tương ứng là 25%, 35%, 45% trên lợi tức đạt được. Ngoài ra, đối tượng nộp thuế còn phải nộp thuế lợi tức bổ sung khi có lợi tức do lợi thế khách quan, hoặc có lợi tức được chia do góp vốn vượt mức nhà nước quy định. Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng thuế lợi tức theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam với mức thuế suất phổ thông thấp hơn so với các doanh nghiệp trong nước, nhằm khuyến khích đầu tư tại Việt Nam trong giai đoạn này. Từ 1/1/1999 cho tới trước ngày 1/1/2004 thuế TNDN được áp dụng thống nhất đối với các đối tượng kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau thay cho thuế lợi tức, mức thuế suất phổ thông đối với các doanh nghiệp trong nước là 32%, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 25%.
Sau 5 năm thực hiện, Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ ba đã thông qua luật thuế TNDN sửa đổi và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2004 áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau kể cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. SV: Đào Thị Hải Yến - Lớp: CQ44/01.02 5 Học viện Tài chính Luận văn Cuối khóa Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá XII tiếp tục tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNDN cho phù hợp hơn với các thành phần kinh tế và tình hình kinh tế - xã hội. Thuế TNDN ở Việt Nam hiện nay được quy định trong những văn bản quy phạm pháp luật sau: - Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 ngày 03/06/2008. - Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế TNDN.
- Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008. - Quyết định 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính về ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. - Và một số văn bản khác. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế TNDN: 1.
Khái niệm thuế TNDN: Thuế TNDN là sắc thuế tớnh trờn thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế. Đặc điểm của thuế TNDN: Thứ nhất, thuế TNDN là thuế trực thu, đối tượng nộp thuế là các doanh nghiệp, nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đồng thời cũng là “người chịu thuế”. Thứ hai, thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư. Thuế GTGT, thuế TTĐB là một số tiền cộng thêm vào giá bán hàng hoá, dịch vụ, người bán hoặc người cung cấp dịch vụ là người tập hợp thuế và nộp vào kho bạc, bởi vậy, nó chủ yếu phụ thuộc vào mức độ tiêu dùng hàng hoá.
Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế nên chỉ khi các DN, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN. Thứ ba, thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế TNCN. Thu nhập mà các cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư như: lợi tức cổ phần, lãi tiền gửi SV: Đào Thị Hải Yến - Lớp: CQ44/01.02 6 Học viện Tài chính Luận văn Cuối khóa ngân hàng, lợi nhuận do góp vốn liên doanh, liên kết… là phần thu nhập được chia sau khi nộp thuế TNDN. Do vậy, thuế TNDN cũng được coi là một biện pháp quản lý TNCN.
Thứ tư, tuy là thuế trực thu song thuế TNDN khụng gõy phản ứng mạnh mẽ bằng thuế TNCN vỡ nó mơ hồ đối với người chịu thuế. Vai trò của thuế TNDN: - Thuế TNDN là nguồn thu quan trọng đối với NSNN. Điều này được thể hiện ở phạm vi áp dụng của thuế TNDN rất rộng, gồm các tổ chức hoạt động SXKD hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế không phân biệt thành phần kinh tế, không phân biệt là DN được thành lập theo pháp luật Việt Nam hay pháp luật nước ngoài mà chỉ quan tâm đến khoản thu nhập chịu thuế đú có phát sinh tại Việt Nam hay không? Mặt khác, cùng với xu thế tăng trưởng kinh tế, quy mô các hoạt động kinh tế ngày càng mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao sẽ tạo ra nguồn thu ngày càng lớn về thuế TNDN cho NSNN. - Thuế TNDN là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập và chính sách công bằng xã hội.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, tất cả các thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật. Các DN với lực lượng lao động có tay nghề cao, năng lực tài chính mạnh mẽ thì DN đó sẽ có ưu thế và có cơ hội để nhận được thu nhập cao, ngược lại, các DN với năng lực tài chính, lực lượng lao động hạn chế sẽ nhận được thu nhập thấp, thậm chí không có thu nhập. Để hạn chế nhược điểm đó, Nhà nước sử dụng Thuế TNDN làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đúng góp của các chủ thể kinh doanh vào NSNN được công bằng, hợp lý. - Thuế TNDN là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược phát triển đất nước trong từng thời kì.
Thuế TNDN còn là công cụ hữu hiệu SV: Đào Thị Hải Yến - Lớp: CQ44/01.02 7 Học viện Tài chính Luận văn Cuối khóa để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý theo ngành và theo vùng lãnh thổ. Thông qua hệ thống thuế suất ưu đãi, thuế TNDN góp phần định hướng cho các DN, các nhà đầu tư chú trọng đầu tư vào những lĩnh vực mà Nhà nước khuyến khích, đầu tư vào những địa bàn được ưu tiên. Thuế TNDN còn góp phần thúc đẩy SXKD phát triển thông qua thực hiện miễn, giảm thuế cho DN thành lập mới trong một số lĩnh vực nhằm tạo điều kiện cho DN nhanh chóng ổn định sản xuất và đảm bảo thu nhập trong những năm tiếp theo. Việc tính trừ các khoản chi phí hợp lý cũng góp phần khuyến khích các DN đầu tư về cả chiều rộng và chiều sâu, thúc đẩy tăng cường hạch toán kinh tế, tạo điều kiện nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Từ những vai trò quan trọng nêu trên, cho ta thấy thuế TNDN là một sắc thuế cần thiết trong hệ thống thuế của mọi quốc gia nhất là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, trong tương lai gần thuế TNDN sẽ giữ vai trò quan trọng trong hệ thống thuế quốc gia. Nội dung cơ bản của Thuế TNDN ở nước ta hiện nay: 1. Phạm vi áp dụng thuế TNDN: Người nộp thuế TNDN là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm: - DN được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật DNNN, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán, Luật dầu khí, Luật thương mại và các văn bản pháp luật khác dưới các hình thức: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp Nhà nước; Văn phòng Luật sư, Văn phòng công chứng tư; Các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; Các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, xí nghiệp liên doanh dầu khí, Công ty điều hành chung. SV: Đào Thị Hải Yến - Lớp: CQ44/01.02 8 Học viện Tài chính Luận văn Cuối khóa - Các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập trong tất cả các lĩnh vực.