Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn cơ chế thanh tra thuế Giá trị gia tăng Chương 2: Thực tra ̣ng cơ chế thanh tra thuế giá trị gia tăng qua khảo sát thực tế tại tỉnh An Giang Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế giá trị gia tăng 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CƠ CHẾ THANH TRA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Một số vấn đề về thuế giá trị gia tăng và thanh tra thuế giá trị gia tăng 1. Thuế giá trị gia tăng: Quan niệm và vai trò 1. Quan niệm thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là một sắc thuế tiên tiến sử dụng thay cho thuế doanh thu, nó khắc phục được nhược điểm “thuế đánh chồng lên thuế” của thuế doanh thu và được áp dụng đầu tiên trên thế giới vào năm 1954 tại Cộng hòa Pháp.
Đến nay thuế GTGT đã được áp dụng rộng rãi khoảng 130 nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam áp dụng từ năm 1999. Thuế giá trị gia tăng là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ (HHDV) phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông, đến tiêu dùng và được thu ở khâu tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ. Những nội dung cơ bản của thuế GTGT: Một là, đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế: Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng HHDV, nó được biểu hiện là một yếu tố cấu thành trong giá cả của HHDV, nhưng lại được thu ở khâu tiêu thụ HHDV trong toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Cứ có hành vi mua bán HHDV là phải tính thuế và người bán hàng phải nộp thuế cho Nhà nước, người mua HHDV không phải là người tiêu dùng sẽ ứng trước số thuế GTGT cho người tiêu dùng, số thuế GTGT ở khâu trước sẽ được tự động chuyển vào giá bán HHDV ở khâu sau và người tiêu dùng cuối cùng là người phải trả toàn bộ số thuế GTGT đánh trên HHDV đó.
Như vậy, đối tượng chịu thuế là tổ chức và cá nhân tiêu dùng HHDV; đối tượng nộp thuế là tổ chức và cá nhân sản xuất, kinh doanh HHDV. Hai là, phạm vi đánh thuế: thuế GTGT đánh vào hoạt động tiêu dùng của từng loại HHDV và đánh vào hoạt động tiêu dùng theo theo phạm vi địa giới hành chính. 6 - Về tiêu dùng loại HHDV chịu thuế: Tùy theo điều kiện kinh tế xã hội, mức thu nhập của người dân và ý chí chính trị của mỗi quốc gia để xác định tiêu dùng những loại HHDV chịu thuế. Thông thường xác định những HHDV cần nhà nước bảo trợ, khuyết khích tiêu dùng thì không đánh thuế vào hoạt động tiêu dùng loại HHDV này, hoặc đánh thuế với mức thuế thấp và ngược lại.
Như tại Việt Nam hiện nay xác định tiêu dùng 25 loại HHDV không chịu thuế GTGT. - Về phạm vi địa giới hành chính: Xuất phát từ tính lãnh thổ của thuế, chính sách thuế GTGT của mỗi quốc gia chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. Như tại Việt Nam hiện nay xác định HHDV xuất khẩu chịu thuế GTGT với thuế suất bằng 0%. Ba là, về căn cứ tính thuế GTGT: Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất - Giá tính thuế là một căn cứ quan trọng để xác định số thuế GTGT phải nộp được xác định theo nguyên tắc là giá bán chưa có thuế GTGT.
- Thuế suất được xác định là “linh hồn” của mỗi sắc thuế, nó thể hiện quan điểm xác định mức động viên của mỗi quốc gia với đối tượng chịu thuế, loại HHDV cần khuyết khích tiêu dùng được áp dụng mức thuế suất thấp. ở Việt Nam ban đầu áp dụng từ ngày 01/01/1999 với bốn mức thuế suất (0%, 5%, 10% , 20%) đến nay chỉ còn ba mức thuế suất là 0%, 5% và 10%. Bốn là, phương pháp tính thuế: Thuế GTGT là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của HHDV ở mỗi khâu trong chu trình sản xuất - lưu thông, nên phương pháp tính thuế cơ bản trên thế giới là phương pháp khấu trừ được xác định bằng số thuế GTGT của HHDV bán ra (thuế GTGT đầu ra) trừ số thuế GTGT của HHDV mua vào (thuế GTGT đầu vào). Tuy nhiên, còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, quy mô của các cơ sở kinh doanh, phong tục tập quán thương mại, mà phát sinh trường hợp có người nộp thuế không đủ cơ sở để xác định thuế GTGT đầu vào và đầu ra, để đơn giản trong quản lý thuế thường áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp một tỷ lệ nhất định trên doanh thu bán HHDV.
Ở Việt Nam hiện đang áp dụng cả hai phương pháp tính thuế này. 7 Năm là, hoàn GTGT: Hoàn GTGT là nguyên lý tất yếu của chính sách thuế GTGT khi số thuế GTGT mà cơ sở sản xuất kinh doanh đã ứng trước khi mua HHDV đầu vào lớn hơn số thuế GTGT của HHDV bán ra. Xét về góc độ tiêu dùng thì hoàn thuế GTGT xẩy ra trong trường hợp HHDV xuất khẩu được tiêu dùng ngoài lãnh thổ, hoặc có sự chênh lệch thuế suất giữa HHDV mua vào lớn hơn thuế suất của HHDV bán ra; xét theo kỳ tính thuế thì ngoài hai trường hợp trên, còn xẩy ra khi số thuế GTGT đầu vào lớn hơn số thuế GTGT đầu ra trong kỳ tính thuế trong các trường hợp: cơ sở sản xuất kinh doanh có nguyên vật liệu mua vào và sản phẩm tồn kho lớn; cơ sở sản xuất kinh doanh trong giai đoạn đầu tư xây dựng, chưa có sản phẩm HHDV bán ra;… 1. Vai trò của thuế giá trị gia tăng Một là, thuế GTGT là khoản thu quan trọng cho NSNN: Thuế GTGT thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng HHDV chịu thuế, nên nó tạo tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước.
Nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế thì áp lực giảm mức huy động từ các sắc thuế trực thu để tăng năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia về thu hút vốn và công nghệ, thì nguồn thu từ các khoản thuế giám thu trong đó có thuế GTGT chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng số thu NSNN từ thuế, phí. Như tại Việt Nam, tỷ trọng thuế GTGT năm đầu áp dụng (năm 1999) chiếm khoảng 22% tổng thu NSNN từ thuế, phí và tỷ trọng này tăng dần hàng năm, cho đến nay tỷ trọng này là khoảng 33% tổng thu NSNN từ thuế, phí. Hai là, thuế GTGT có tác dụng điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ. Mức điều tiết này thể hiện qua việc quy định đối tượng không chịu thuế, đối tượng chịu thuế và mức thuế suất, như: đối với HHDV thiết yếu hoặc HHDV khuyến khích tiêu dùng thì đưa vào nhóm không thuộc đối tượng chịu thuế hoặc là đối tượng chịu thuế nhưng với mức thuế suất thấp; ngược lại đối với HHDV không khuyến khích tiêu dùng thì chịu mức thuế suất cao, người tiêu dùng phải chịu mức thuế cao hơn.
Ba là, thuế GTGT là loại thuế không trùng lắp do thuế GTGT chỉ tính vào giá trị tăng thêm của HHDV qua từng công đoạn của các khâu sản xuất, lưu thông, tiêu 8 dùng, không tính vào phần giá trị đã chịu thuế GTGT ở các khâu trước, thuế đã nộp ở các khâu trước được tính khấu trừ ở khâu sau, nên khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh; khuyến khích chuyên môn hoá, hợp tác hoá sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế. Bốn là, khuyến khích xuất khẩu: do HHDV xuất khẩu có thuế suất thuế GTGT là 0% và được hoàn trả số thuế GTGT của HHDV đầu vào, nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh về giá hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu trên thị trường quốc tế. - Năm là, thúc đẩy việc thực hiện tốt hơn về chế độ hạch toán kế toán, sử dụng hóa đơn chứng từ và thanh toán không dùng tiền mặt: Vì để xác định được số thuế phải nộp phải có cơ sở xác định số thuế GTGT đầu vào và thuế GTGT đầu ra, cùng với quy định để minh bạch hóa các giao dịch thương mại, do đó đòi hỏi các DN phải mở sổ sách hạch toán đầy đủ và có đủ hóa đơn chứng từ về doanh thu, chi phí và hạch chế sử dụng tiền mặt trong các giao dịch thương mại, tăng tính minh bạch về hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở sản xuất kinh doanh. Đây cũng là cơ sở để tính đúng, tỉnh đủ nghĩa vụ các loại thuế khác, hạn chế được việc gian lận về thuế và thất thu ngân sách.
Thanh tra thuế giá trị gia tăng:Quan niệm, mục đích, nguyên tắc, hình thức, đặc điểm và nội dung thanh tra 1. Quan niệm thanh tra thuế thuế giá trị gia tăng Thanh tra (động từ trong tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ gốc La tinh (In spectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một hoạt động xem xét từ bên ngoài đối với sự tồn tại và vận động của một đối tượng nhất định. Từ điển luật học thì thanh tra “là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định” Theo từ điển tiếng Việt năm 2000 của Viện Ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản, thanh tra là "kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp". Theo Điều 1, Pháp lệnh Thanh tra 1990 thì “Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước, là phương thức đảm bảo pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý Nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa”.
9 Luật Thanh tra 2010 không đưa ra khái niệm “thanh tra” nói chung mà mà đưa ra khái niệm thanh tra nhà nước, thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và thanh tra nhân dân. Trong đó: + Thanh tra nhà nước “là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân.