phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu sơ đồ, danh mục chữ viết tắt, luận văn bao gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu ngân sách nhà nƣớc 5 6 Chƣơng 2: Thực trạng về quản lý thu ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn tỉnh LuôngPrabang - CHDCND Lào Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản lý thu ngân sách nhà nƣớc trên địa bản tỉnh LuongPrabang - CHDCND Lào 6 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan về thu ngân sách nhà nƣớc 1. Khái niệm ngân sách nhà nước và hệ thống ngân sách nhà nước * Khái niệm ngân sách nhà nƣớc Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển: Ngân sách nhà nƣớc là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu, chi của Chính phủ, đƣợc thiết lập hàng năm. (Nguyễn Thị Lan Phƣơng, 2016) Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN, chẳng hạn: Các nhà kinh tế phƣơng Tây cho rằng: Ngân sách nhà nƣớc là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc, là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nƣớc; Các nhà kinh tế Trung Quốc cho rằng, NSNN là kế hoạch thu, chi tài chính hàng năm của Nhà nƣớc đƣợc xét duyệt theo trình tự pháp luật quy định; Các nhà kinh tế Nga cũng cho rằng, NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của Nhà nƣớc.
(Cao Thị Ý Nhi, 2016) Nhƣ vậy, từ việc tìm hiểu các khái niệm nêu trên về NSNN, ta có thể thấy rằng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm NSNN. Theo quan điểm của tác giả thì: "Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước." * Hệ thống Ngân sách Nhà nƣớc Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu - chi của mỗi cấp ngân sách đƣợc xác định thống nhất về cơ sở kinh tế, chính trị, bởi pháp chế và các nguyên tắc tổ chức bộ máy hành chính Nhà nƣớc. (Cao Thị Ý Nhi, 2016) 7 8 Ở các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng, hệ thống NSNN đƣợc tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức bộ máy quản lý hành chính Nhà nƣớc. Từ đó, dẫn đến tồn tại của hai mô hình tổ chức bộ máy NSNN.
Ở các nƣớc có mô hình tổ chức hành chính theo thể chế Nhà nƣớc liên bang (Hợp chủng quốc Hoa kỳ, Cộng hòa liên bang Đức, vv.), hệ thống NSNN đƣợc tổ chức theo 3 cấp là ngân sách liên bang, ngân sách bang và ngân sách địa phƣơng. Ở một số nƣớc có mô hình tổ chức hành chính theo thể chế Nhà nƣớc thống nhất nhƣ Anh, Italia, Nhật bản… hệ thống ngân sách có 2 cấp là ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng. Khái niệm, đặc điểm thu ngân sách nhà nước 1. Khái niệm thu ngân sách Nhà nước Thu NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nƣớc với các chủ thể trong xã hội, phát sinh trong quá trình nhà nƣớc huy động, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nƣớc nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng của nhà nƣớc về mọi mặt.
Thu NSNN là quá trình Nhà nƣớc dùng các quyền lực có đƣợc của mình để phân phối lại một bộ phận của cải xã hội dƣới hình thức quỹ tiền tệ tập trung của nhà nƣớc. Nói cách khác, thu NSNN nó bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nƣớc, các khoản thu đóng góp của các tổ chức, cá nhân, các khoản viện trợ các khoản khác theo quy định của pháp luật và các khoản do nhà nƣớc vay để bù đắp bội chi (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006). Đặc điểm thu ngân sách Nhà nước Thu NSNN có các đặc điểm nhƣ sau (Học Viện Tài chính, 2010): - Thứ nhất, thu NSNN chứa đựng các mối quan hệ nảy sinh trong quá trình phân phối của cải dƣới hình thức giá trị gắn với quyền lực chính trị của Nhà nƣớc. 8 9 Xét về nội dung, thu NSNN, một mặt, chứa đựng các quan hệ phân phối của cải nảy sinh trong quá trình nhà nƣớc sử dụng quyền lực chính trị buộc các chủ thể kinh tế khác phải đóng góp vào NSNN.
Đƣơng nhiên, quan điểm buộc tuân thủ một chiều nhƣ vậy luôn làm nảy sinh mẫu thuẫn giữa cơ quan thu và đối tƣợng nộp NSNN. Các đối tƣợng nộp NSNN luôn có động cơ trốn nộp vào NSNN khi có thể. Họ có thể lợi dụng sơ hở của chính sách và quá trình tổ chức thu NSNN để giảm nhẹ nghĩa vụ nộp NSNN của minh. Các cơ quan thu, ngƣợc lại phải tăng cƣờng tuyên truyền, vận động, kiểm tra, giám sát bằng nhiều hình thức để có thể thu đủ, thu đúng chế độ, chính sách.
Tuy nhiên, trên thực tế bào giờ cũng tồn tại một khoản thất thu nhất định do cơ quan thu không thể kiểm soát chặt chẽ mọi đối tƣợng nộp NSNN. Vì thế, ở các nƣớc, nhà nƣớc thƣờng đề ra các chế tài đối với những ngƣời không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp NSNN. Nhiều nƣớc có chế tài khá nghiêm khắc (phạt tiền, phạt tù…). - Thứ hai, thu không gắn với cam kết cung cấp dịch vụ công Khác với các quan hệ thị trƣờng, thu NSNN mang tính chuyển nhƣợng một chiều giữa các chủ thể kinh tế và cơ quan nhà nƣớc.
Khi thu NSNN, các cơ quan thu không cam kết sẽ cung cấp ngƣợc lại các dịch vụ công tƣơng ứng với các khoản thu. Vì thế, ngƣời ta thƣờng cho rằng, thu NSNN có tính chất không hoàn trả một cách trực tiếp. - Thứ ba, nguồn thu NSNN phụ thuộc vào quy mô và trạng thái nền kinh tế NSNN có nhiều khoản thu, nhƣng hầu hết các khoản thu đó đều tăng, giảm tự động theo quy mô và trạng thái của kinh tế thị trƣờng. Khi nền kinh tế tăng trƣởng với tốc độ cao, dù chính sách thu không thay đổi, các khoản thu đều đƣợc tự động điều chỉnh ở mức cao (do các khoản thu đƣợc thiết kế theo hƣớng lũy tiến).
Ngƣợc lại, khi nền kinh tế suy thoái, khủng hoảng, nguồn thu 9 10 giảm nhanh theo thu nhập và tình trạng của các tổ chức, cá nhân ngƣời lao động trong nền kinh tế. Vì thế, các nhà nƣớc đều nỗ lực tăng thu trong điều kiện thuận lợi để có nguồn dự trữ hỗ trợ khi nền kinh tế lâm vào khó khăn. - Thứ tƣ, thuế nội địa là nguồn thu lớn nhất của NSNN Nhƣ trên đã phân tích, NSNN có nhiều khoản thu, nhƣng theo xu hƣớng phát triển thuế nội địa luôn có xu hƣớng trở thành nguồn thu lớn nhất. Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nƣớc có xu hƣớng giảm do các nhà nƣớc hiện đại có xu hƣớng chuyển giao các ngành kinh tế có năng lực cạnh tranh sang khu vực tƣ nhân, chỉ giữ lại các hoạt động mà tƣ nhân không hứng thú, nhằm giảm tác động cản trở đầu tƣ tƣ nhân.
Các hoạt động kinh tế nhà nƣớc giữ lại phần lớn là không có thu nhập, ngƣợc lại, đòi hỏi các khoản chi không hoàn lại khá lớn, tạo thêm áp lực cho thu NSNN. Do vậy, nguồn thu chủ yếu của NSNN là thu nội địa, trong đó bao gồm thuê, phí, lệ phí, nhƣng thuế luôn chiếm tỷ trọng lớn. Thuế nội địa bao gồm: thuế gián thu và thuế trực thu. Thuế giá thu dễ thu và ít có động cơ trốn thuế hơn, nhƣng tác động nhiều tới năng lực cạnh tranh của hàng hóa và không khuyến khích nhà đầu tƣ sản xuất hang hóa nội địa.
Thuế trực thu chịu áp lực trốn thuế lớn hơn nhƣng sẽ có xu hƣớng tăng cùng với quá trình phát triển KT-XH. Tuy nhiên, vào thời kỳ suy thoái, nguồn thu thuế trực thu sẽ giảm sút nhanh do thu nhập của DN và ngƣời lao động đều sụt giảm. Vai trò của thu ngân sách nhà nước Vai trò của thu NSNN đƣợc thể hiện nhƣ sau (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006): * Đối với chi NSNN Ngân sách nhà nƣớc là một quỹ tiền tệ tập trung phục vụ kế hoạch chi tiêu của nhà nƣớc trong năm tài chính. Điều đó cho thấy, nếu không thu đủ thì chi NSNN sẽ gặp khó khăn.
Tình trạng thu nhỏ hơn chi sẽ dẫn đến tình huống 10 11 bội chi NSNN, buộc Nhà nƣớc phải đi vay để bù đắp phần bội chi, kết cục là chi NSNN năm sau không những chịu áp lực của thu NSNN mà còn phải gánh thêm khoản trả nợ gốc và lãi. Ở các quốc gia mà cơ quan lập pháp kiểm soát chặt chẽ trần nợ công, nếu không thu đủ chi, nhiều cơ quan nhà nƣớc phải đóng cửa hoặc giảm biên, thu hẹp quy mô hoạt động. Có thể thấy, quy mô thu NSNN quyết định quy mô chi NSNN. Không những thế, tiến độ thu NSNN quyết định tiến độ chi và chi phí thêm cho chi NSNN khi phải đi vay để chi những khoản mà thu chƣa cập nhật đƣợc.
Ngoài ra, thu NSNN đúng tiến độ, giảm tối đa mức độ thất thu sẽ tạo khả năng cung cấp nguồn tài chính phục vụ cho các hoạt động của bộ máy nhà nƣớc. Ở nƣớc ta, NSNN còn cung ứng nguồn tài chính cho các tổ chức chính trị, xã hội khác. Nhƣ vậy, nếu thu NSNN gặp khó khăn, cả hệ thống chính trị sẽ gặp khó khăn. Đặc biệt, nguồn kinh phí quyết định các hoạt động quốc phòng và an ninh cũng từ NSNN và thƣờng là các khoản chi khá lớn.
Do đó nếu thu NSNN gặp khó khăn, kinh phí cho lĩnh vực an ninh – quốc phòng cũng khó cân đối, ảnh hƣởng rất lớn đến khả năng phòng thủ của quốc gia và tình hình trật tự xã hội. * Với tƣ cách công cụ điều tiết vĩ mô Trong nền kinh tế thị trƣờng, tƣơng quan cung cầu ảnh hƣởng rất lớn đến giá cả. Giá cả là tín hiệu điều tiết hành vi của ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng. Đối với ngƣời sản xuất, khi giá cả thấp hơn chi phí, họ phải chịu đựng một thời gian dài lỗ vốn mà không dám dừng sản xuất, bởi sự di chuyển vốn từ ngành này sang ngành khác là rất khó khăn và đối với nền kinh tế, thì việc di chuyển vốn sẽ gây ra những phản ứng dây chuyền là nguyên nhân của các vụ phá sản.