Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề quản lý thông tin về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên truyền hình Chương 2: Thực trạng quản lý thông tin về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên Kênh Truyền hình Quốc phòng Việt Nam Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp tăng cường quản lý thông tin về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên Kênh Truyền hình Quốc phòng Việt Nam 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ THÔNG TIN VỀ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƢ TƢỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH 1.1 Các khái niệm, vai trò, cơ sở chính trị - pháp lý của quản lý thông tin về bảo vệ NTTT của Đảng trên Kênh Truyền hình 1.1 Các khái niệm Quản lý Theo quan điểm của C. Mác thì “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [42; tr. Theo quan điểm này, Quản lý là một yếu tố khách quan của mọi quá trình lao động, bất kể dưới hình thái xã hội nào, quản lý cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội, là một yếu tố quan trọng và quyết định đến sự phát triển của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia. Theo Từ điển tiếng Việt, quản lý là “trông nom, coi giữ là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định.
Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [53; tr. Như vậy quản lý là chức năng vốn có của một tổ chức, hoạt động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều kiển từ trung tâm theo những yêu cầu nhất định. Torrington cuốn Tiếp xúc mặt đối mặt trong quản lý: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý nên đối tượng và hách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu trong điều kiện biến động của môi trường” [49; tr.12] Theo giáo trình Quản lý học, Trường Đại học Kinh tế quốc dân: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực và hoạt động của hệ thống xã hội nhằm đạt được mục đích của hệ thống với hiệu lực và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môi trường luôn biến động” [33; tr.38] 12 Từ những định nghĩa đề cập ở trên, có thể thấy, hoạt động quản lý là một quá trình thực hiện một chuỗi các hoạt động khác nhau và phải trả lời được các câu hỏi: Ai quản lý? (Chủ thể quản lý). Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể/Đối tượng quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); Quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý) [47; tr27] Quá trình quản lý được thực hiện thông qua hai đối tượng nhất định: chủ thể quản lý (đưa ra quyết định quản lý) và đối tượng quản lý (chịu sự tác động những quyết định của chủ thể quản lý).
[47; tr27] Từ những quan điểm trên học viên xin được rút ra khái niệm: Quản lý là quá trình điều hành các hoạt động nhằm đạt được các ết quả cụ thể một cách ổn định ngay cả trong các điều kiện hông hoàn toàn được kiểm soát và hông chắc chắn. Thông tin Trong phần giải thích từ ngữ của “Luật tiếp cận thông tin 2016” có đưa ra khái niệm: “Thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc dạng hác do cơ quan nhà nước tạo ra” [40]. “Thông tin là những tin tức, thông báo, tri thức được sử dụng trong quá trình giao tiếp của con người. (Quá trình thông tin này vốn có trong thế giới vật chất.
Bởi lẽ trong sự giao tiếp giữa con người với con người, trong sự hoạt động của các hệ thống kỹ thuật tự động, trong sự di truyền những đặc tính của bố mẹ cho con cái, trong sự thích nghi của cơ chế sống với yếu tố môi trường v. Tất cả những cái đó đều có liên quan đến quá trình thu thập, tàng trữ, chế biến và xử lý thông tin) [5, tr8] “Thông tin là sự truyền tin cho mọi người biết”. [5, tr8] 13 “Thông tin là một loại hình hoạt động để di chuyển nội dung thông báo” [5, tr8] “Thông tin là từ được dùng để chỉ chất lượng nội dung của thông báo nói chung” [5, tr8] “Thông tin, đó là sự làm nhân rộng ra và trao đổi những tín hiệu hông chỉ giữa người với người mà còn giữa người với phương tiện kỹ thuật tự động, giữa tự động vơi tự động. Trao đổi tín hiệu giữa thế giới động vật, thực vật với nhau” [5, tr8] Có thể thấy, các nhà khoa học trên thế giới đã đưa ra hàng trăm khái niệm về thông tin.
Với cách lý giải đó khái niệm về thông tin được hiểu chung nhất là: “Thông tin là nội dung kết quả của sự phản ánh thực tại khách quan, mang tính chất chọn lọc được diễn đạt trong thông báo và được sử dụng trong đời sống xã hội”. Quản lý thông tin Từ cách hiểu về “quản lý” và “thông tin”, chúng ta có thể hiểu và đưa ra khái niệm cho “Quản lý thông tin” là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý đối với các thông tin với tư cách là đối tượng quản lý trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra từ trước. Quản lý thông tin về bảo vệ NTTTCĐ là hoạt động quản lý sử dụng các phương pháp, công cụ quản lý để đảm bảo các thông tin của Đảng, nhà nước đi đúng định hướng, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, ổn định xã hội, củng cố nâng cao niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, từ khi Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, [7] được ban hành, công tác này đã được triển khai một cách đồng bộ, thống nhất và toàn diện trên mọi mặt.
Dù vậy, trước những yêu cầu của bối cảnh mới, vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra đối với công bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 14 Nền tảng tư tưởng Khái niệm “Nền tảng là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong đời thường cũng như trong các văn bản chuyên môn, tùy vào cách tiếp cận mà người ta hiểu nền tảng trên các phương diện khác nhau. Một trong những cách hiểu thông dụng nhất đó là: “ nền tảng là bộ phận vững chắc dựa trên đó các bộ phận hác tồn tại và phát triển. Nền tảng tư tưởng thuộc về nền tảng tinh thần, ý thức; đó là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm mang tính nhất quán, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của một cá nhân, giai cấp, dân tộc (được hình thành trên một cơ sở thực tiễn nhất định) có tác dụng chỉ đạo chủ thể trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Đối với một giai cấp, một dân tộc thì nền tảng tư tưởng là cơ sở lý luận, là quan điểm chỉ đạo, là ngọn đuốc soi đường dẫn lối cho sự phát triển. Rõ ràng, nền tảng tư tưởng khoa học, đúng đắn sẽ dẫn dắt giai cấp, dân tộc, xã hội đó phát triển tiến bộ, tích cực và ngược lại. Nền tảng tư tưởng không phải là có sẵn có, nó xuất hiện trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người. Vì thực tiễn luôn luôn thay đổi, nên nền tảng tư tưởng không phải là một cái gì đó bất biến, mà luôn luôn phải bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn.[33] Khái niệm về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Khái niệm bảo vệ được từ điển Hán Việt giải nghĩa như sau: “Bảo có nghĩa là giữ, vệ có nghĩa là che chở.
Bảo vệ có nghĩa là gìn giữ chống sự xâm phạm để khỏi bị hư hỏng, mất mát”, [51,tr.25] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[2]. Như vậy, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam được xác định là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết lý luận sâu sắc, toàn diện trên nhiều lĩnh vực, mà cơ bản, 15 trọng yếu, cốt lõi, nhất là: Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học. Trong cuốn sách “ Bảo vệ và phát triển tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” do Cục Tuyên huấn, TCCT cũng chỉ rõ quan điểm: “Nền tảng tư tưởng của Đảng (NTTTCĐ) là hệ thống lý luận và là cơ sở khoa học, thực tiễn về xây dựng Đảng, về nguyên tắc hoạt động của Đảng, về định hướng phát triển của Đảng, về mục tiêu đấu tranh cách mạng của Đảng.
Một đảng chính trị cần nhất chính là có nền tảng tư tưởng riêng của nó và tư tưởng đó là tuyệt đối hông thể tách rời” [11]. “Bảo vệ NTTTCĐ là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước” [9] Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng và kim chỉ nam hành động, từ đó phát huy truyền thống tốt đẹp và quý báu của dân tộc ta, qua đó tiếp thu linh hoạt tinh hoa của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và xu thế thời đại áp dụng vào thực tiễn đất nước để đề ra chủ trương, đường lối cách mạng phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Truyền thông chính trị Tác giả Nguyễn Thu Trang có bài viết “Kinh nghiệm truyền thông chính trị ở một số quốc gia và gợi ý tham hảo đối với Việt Nam” đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 956 (tháng 12 năm 2020), mục Thế giới: Vấn đề - Sự kiện có nhận định: “Truyền thông chính trị là một chủ đề có sức hút lớn với nhiều học giả trên thế giới, với rất nhiều cách thức tiếp cận hác nhau.