Chương 1. NHUNG VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE BAN TIN DOI NGOAI TRUYEN HINH 1. Một số khái niệm cơ bản của van đề nghiên cứu 1. Truyền hình Hiện nay có nhiều khái niệm, quan niệm về truyền hình.
TS Ta Ngọc Tan trong cuốn “Truyền thông đại chúng” cho rằng: “Truyền hình la một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh. Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình (television) bắt đầu từ hai từ tele có nghĩa là “ở xa” và vision là “thấy được”, tức là “thấy được ở xa” [61, tr. Với sự kết hợp giữa hình ảnh động và âm thanh, truyền hình mang lại cho con người “cam giác vé một cuộc sống rất thật, đang hiện diện trước mắt. Đó là cuộc sống thật nhưng đã được cô đọng lại, làm giàu thêm về ý nghĩa, làm sáng rõ hơn về hình thức và làm phong phú hơn về những khía cạnh, bình diện, đường nét sinh động”.TS Dương Xuân Sơn: “Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điện” [56, tr.
Truyền hình ra đời và phát triển do nhu cầu khách quan của xã hội. Truyền hình có khả năng tạo dựng dư luận xã hội nhanh hơn cả vì nó tác động tới công chúng và thông tin mà họ nhìn thấy; nó sẽ ảnh hưởng tới suy nghĩ và hành động của họ trong đời sống. Trong quá trình phát triển, vai trò, vị trí, ảnh hưởng và tác động của truyền hình đối với công chúng nói chung và định hướng dư luận nói riêng ngày càng gia tăng. “Truyén hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng.
Dan dân truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quan lý và giám sát xã hội, tạo lập và định hướng du luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo và các dịch vụ khác. Có rất nhiều khái niệm truyền hình được đưa ra, mỗi khái niệm đưa ra được các khía cạnh đặc trưng riêng. Từ những nghiên cứu trên tác giả xin nêu ra một khái niệm liên quan đến truyền hình như sau: truyén hình là một loại hình truyền thông 17 dai chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh. Nếu xem xét truyền hình dưới góc độ kỹ thuật thì nó là hệ thong cho phép truyền hình ảnh và âm thanh tương ứng từ trạm phát đến người xem ở một khoảng cách nhất định.
Phương thức truyền dẫn là sử dụng khả năng truyền lan của sóng điện từ trong môi trường xác định. Môi trường ở đây có thé là không gian, bề mặt kim loại. Khi truyền ra không gian thì người ta gọi là sóng vô tuyến. Khi được truyền trên bề mặt của dây dẫn băng kim loại thì gọi là hữu tuyến.
Thế mạnh của truyền hình là khả năng tích hợp trong nó hầu hết các loại thông tin từ báo in, phát thanh, điện ảnh. Sự kết hợp hài hoà giữa hình ảnh và âm thanh, tạo ra cho nó khả năng truyền tai thông tin vô cùng phong phú, có sức hap dan đặc biệt nhờ việc tạo sự giao tiếp với con người bằng cả thị giác và thính giác. Chương trình thời sự và Bản tin truyền hình Dé chỉ tính cập nhật trong hoạt động đưa tin, trong lĩnh vực chuyên môn người ta sử dụng thuật ngữ “thời sự”. Theo Tử điền tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học NXB Đà Nẵng (1998): “Thời sự là tổng thể nói chung những sự kiện ít nhiều quan trọng trong một lĩnh vực nào đó, thường là xã hội chính tri, xảy ra trong thời gian gần nhất và đang được nhiều người quan tâm” [69, tr.923] “Chương trình thời sự đơn giản giống như một bản tin trên báo, thông báo sự việc, hơn nữa đó là những sự việc được phân tích, khái quát.
Trên thực tế chủ đề của bản tin là không giới hạn: nông nghiệp, nghệ thuật, kinh doanh, các sự kiện quốc tế.283] Trong cuốn Các loại hình báo chí truyền thông, tác giả Dương Xuân Sơn đã định nghĩa về chương trình Thời sự như sau: - Đây là chương trình quan trọng nhất của một đài truyền hình với tư cách là cơ quan báo chí. Nó hàm chứa những đặc điểm nỗi bật như: Thông tin thời sự được cập nhật liên tục: cung cấp cho người xem những tin tức mới nhất về sự kiện đang diễn ra, có khả năng đưa tin nhanh nhất bằng truyền hình trực tiếp. Các bản tin được sản xuất liên tục theo chu kì thời gian, có thé là 1 tiếng, 3 tiếng, 6 tiếng, 12 tiếng. - Đảm bảo cơ cấu thông tin các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, thể thao.
nhờ đó mà nhu cầu thông tin của nhiều đối tượng khán giả được đáp ứng. 18 - Đảm bảo thông tin các vùng miền: mỗi đài truyền hình đều xác định đối tượng khán giả trong một không gian địa lý, việc xây dựng kết cấu bản tin và đưa tin tức đều khắp các khu vực là cần thiết, nó đảm bảo sự công bằng trong tiếp nhận tin tức cua công chúng. 185] Hiểu một cách đơn giản, chương trình thời sự là chương trình truyền tải những tin tức thời sự nóng hồi, đáp ứng nhu cầu của khán giả về mặt thông tin, nhanh chong, kip thời. Tóm lại, chương trình thoi sự là một chương trình truyền hình, trong đó chuyền tải các thông tin về sự kiện, hiện tượng trong cuộc sông xã hội một cách nhanh chóng, kịp thời đến công chúng, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ tuyên truyền và nhu cầu thông tin của công chúng, được phát sóng định kỳ, có thời lượng ồn định.
Một chương trình thời sự truyền hình được kết cấu, xây dựng bởi các thể loại: Tin, phóng sự, ghi nhanh, phỏng vấn. So sánh chương trình thời sự và bản tin truyền hình Nét tương đồng: Các tác giả D.Xich trong cuốn “Báo chí truyền hình, tập 2”: Bản tin ngắn, đó là thé loại chung của báo chí, được sử dụng trên các ấn phẩm, các đài phát thanh, đài truyền hình. Nhiều khi người ta gọi bản tin thời sự là bản tin ngắn. Bản tin truyền hình là sự ghi lại những sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian.
Trong báo chí, thể loại thời sự là thông tin ngắn về sự kiện. Vậy nên bản tin ngắn và bản tin thời sự trở nên đồng nghĩa. Trong truyền hình thé loại ấy gồm bản tin được phát băng lời và bản tin ngắn bằng hình ảnh. Với những người làm truyền hình họ thường dùng tên gọi “bản tin” (khi nói đến mọi tin tức thời sự, ké cả bản tin được phát bằng lời) [81, tr.21, 22] Sự khác biệt: nêu dem phân biệt chương trình thời sự và bản tin truyền hình thì về cơ bản không có sự khác biệt lớn.
Thuật ngữ “bản tin truyền hình” và “chương trình thời sự” đều xuất phát từ nghĩa gốc tiếng Anh là “news”. Bởi vậy trên truyền hình người ta có thể gọi là “chương trình thời sự” hoặc “bản tin truyền hình”. Có chăng bản tin phần lớn là tin và có thời lượng ngắn hơn chương trình thời sự, còn chương trình thời sự thường có thời lượng dài, có nhiều bản tin hơn trong một số phát sóng. 19 Như vậy có ton tại sự khác biệt giữa các cụm từ, tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn tác giả sử dụng “bản tin đối ngoại”, “bản tin tiếng nước ngoài”, “chương trình thời sự tiếng nước ngoài” với nội hàm như nhau dé chỉ các bản tin về các sự kiện trong và ngoài nước bằng ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Trung do kênh QPVN sản xuất.
Thông tin đối ngoại Qua thực tế tìm hiểu các công trình nghiên cứu gần đây về thông tin đối ngoại cho thay các nhà nghiên cứu chưa thống nhất quan niệm về thông tin đối ngoại. Thông tin đối ngoại đøjợc tiếp cận như sau: Thông tin đối ngoại là một dạng thông tin, dojgc hiểu là tin tức, thông báo hay là tri thức về một sự vật, hiện tojong được chứa đựng trong các hình thức nhất định, đơiợc tiếp nhận, lựa chọn và sử dụng trong công tác đối ngoại. Thông tin đối ngoại bao gồm những thông tin trong nước và quốc tế được dùng trong quá trình hoạt động đối ngoại. Thông tin đối ngoại là một lĩnh vực hoạt động: Thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, mục đích làm cho các nước, người nước ngoài (bao gốm cả người nước ngoài đang sinh sống, công tác tại Việt Nam, người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài hiểu về đất nước, con người Việt Nam, đường lối, chủ trương chính sách và thành tựu đổi mới của ta, trên cơ sở đó tranh thủ sự ủng hộ cua nhân dân thé giới, sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.[53] Theo tác giả Phạm Minh Sơn: “Thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng và đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhằm làm cho thế giới hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, những thành tựu trong công cuộc đổi mới của Việt Nam, đất nước, con người, lịch sw, văn hóa, những giá trị vật chất và tỉnh thần của dan tộc Việt Nam; dau tranh chống lại những luận điệu xuyên tac, chống phá Việt Nam; làm cho nhân dân ta hiểu rõ về thé giới; dong thoi tranh thu su dong tinh, ung hộ, hop tác, giúp đỡ của ban bè quốc tế, sự dong thuận va đóng góp của đông bào ta ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ”153, tr.
20 Như vậy, thông tin đối ngoại không chỉ là sự truyền thông tin ra bên ngoài, mà còn là hoạt động mang tính tổng hợp, có tính tương tác hai chiều. Phạm vi hoạt động thông tin đối ngoại rất rộng, bao gồm những hoạt động tuyên truyền, nghiên cứu lý luận, phân tích, bình luận những sự kiện quốc tế, những vấn đề nhạy cảm trong quan hệ quốc tế. nhăm bảo đảm tính khoa học và tính thuyết phục của các thông tin. Bản tin đỗi ngoại truyền hình Bản tin đối ngoại là một trong những hình thức truyền tải thông tin đối ngoại trên báo chí.