Mở đầu Nội dung chính Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị giáo dục ở trƣờng học Chƣơng 2: Thực trạng về quản lý thiết bị giáo dục ở các trƣờng tiểu học huyện An Dƣơng, thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Biện pháp quản lý thiết bị giáo dục ở các trƣờng tiểu học huyện An Dƣơng, thành phố Hải Phòng Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ THIẾT BỊ GIÁO DỤC Ở TRƢỜNG HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trực quan trong dạy học là một trong những nguyên tắc lí luận dạy học, đƣợc nghiên cứu xuyên suốt qua các thời kì triết học: Trực quan trong triết học cổ đại, trực quan trong triết học siêu hình cận đại , trực quan trong triết học biện chứng duy tâm, trực quan trong triết học duy vật biện chứng. Cùng với sự phát triển của các tƣ tƣởng trong lĩnh vực tâm lí, giáo dục học, lí thuyết về dạy học trực quan đã có những bƣớc tiến mới nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của phƣơng tiện- thiết bị dạy học trực quan. Tính trực quan trong dạy học đóng vai trò minh họa trong bài giảng của giáo viên, giúp học sinh không chỉ nhận biết đƣợc hiện tƣợng mà còn nắm rõ bản chất của hiện tƣợng.
TBGD- phƣơng tiện dạy học trực quan, có vai trò lớn trong quá trình nhận thức của học sinh. Theo Lênin quy luật nhận thức của con ngƣời là "Từ trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng, từ tƣ duy trừu tƣợng đến thực tiễn". Theo VAT: Kiến thức thu đƣợc qua nghe là 11%, qua nhìn là 81%, qua các giác quan khác là 9%. Kiến thức nhớ đƣợc qua nghe là 20%, qua nhìn là 30%, qua nghe và nhìn là 50%, qua nói là 80%, qua nói và làm là 90%.
Tục ngữ Việt Nam đã có câu đúc kết: Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm. Ngƣời Ấn Độ cũng đã từng tổng kết: Tôi nghe- Tôi quên, Tôi nhìn- Tôi nhớ, Tôi làm- Tôi hiểu. Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: Học phải đi đôi với hành. TBGD đóng vai trò quan trọng đối với quá trình dạy học và giáo dục góp phần nâng cao chất lƣợng toàn diện cho học sinh vì vậy nhiều hội nghị về 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo dục đã từng khẳng định: Ngành giáo dục cần phải đƣợc đổi mới thƣờng xuyên về mục đích, cấu trúc, nội dung, TBGD và phƣơng pháp để tạo cho tất cả học sinh có những cơ hội học tập.
Tuỳ theo hoàn cảnh kinh tế, các nƣớc trên thế giới đều có khuynh hƣớng hoàn thiện CSVC- TBGD phù hợp với nội dung, phƣơng pháp và hình thức tổ chức dạy học. Quản lí TBGD là một trong những hoạt động quản lí của nhà trƣờng, nó góp phần to lớn cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Việc quản lí TBGD cần tuân thủ theo đúng những nguyên tắc, nội dung, quy trình của quá trình quản lí, có nhƣ vậy biện pháp quản lí mới đạt hiệu quả cao góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng TBGD và chất lƣợng dạy học của nhà trƣờng. Đối với Việt Nam, việc đầu tƣ CSVC-TBGD đặc biệt đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm, từ những năm 1960 Bộ giáo dục và Đào tạo đã chính thức ban hành tiêu chí TBGD từ mẫu giáo đến phổ thông, đến 2000 đã chính thức ban hành quy chế thiết bị giáo dục, đến 2010 chính thức ban hành danh mục thiết bị tối thiểu đối với các nhà trƣờng.
Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng TBGD của giáo viên chƣa đạt hiệu quả do nhiều hạn chế về chất lƣợng TBGD, kĩ năng sử dụng của giáo viên, biện pháp quản lí của cán bộ quản lí. Chính vì vậy đã có nhiều đề tài nghiên cứu về việc sử dụng TBGD, quản lí TBGD nhằm tìm ra những biện pháp quản lí hiệu quả TBGD nhƣ: Năm 2005, chủ nhiệm đề tài Ngô Quang Sơn đã bảo vệ thành công đề tài cấp Bộ về: "Một số biện pháp quản lí nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung tâm giáo dục thƣờng xuyên và trung tâm học tập cộng đồng". Năm 2006, đề tài luận văn thạc sỹ: "Một số biện pháp quản lí CSVC và thiết bị trƣờng học của hiệu trƣởng các trƣờng THCS huyện miền núi Sơn Dƣơng - Tuyên Quang" của tác giả Nguyễn Thị Huế. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2008, đề tài luận văn thạc sỹ: "Biện pháp quản lí phƣơng tiện dạy học của hiệu trƣởng các trƣờng Tiểu học quận Đống Đa, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Phan Kim Anh.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề quản lí TBGD tại các trƣờng Tiểu học còn ít đề tài đề cập đến, chính vì vậy mà tác giả đã tiến hành nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng quản lí TBGD tại các trƣờng Tiểu học huyện An Dƣơng, thành phố Hải Phòng để từ đó đề xuất một số biện pháp quản lí thiết bị giáo dục góp phần đƣa chất lƣợng dạy học tại các trƣờng Tiểu học trên địa bàn huyện An Dƣơng, thành phố Hải Phòng ngày càng phát triển cao hơn. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lí Trong lịch sử phát triển của xã loài ngƣời, hoạt động quản lí đã xuất hiện từ rất sớm. Từ khi con ngƣời biết tập hợp nhau lại, tập trung sức lực để tự vệ hoặc lao động kiếm sống thì bên cạnh lao động chung của mọi ngƣời đã xuất hiện những hoạt động tổ chức, phối hợp, điều khiển đối với họ.
Những hoạt động đó xuất hiện, tồn tại và phát triển nhƣ một yếu tố khách quan, là cơ sở đảm bảo cho các hoạt động chung của con ngƣời đạt đƣợc kết quả mong muốn. Đó chính là những dấu ấn đầu tiên của hoạt động quản lý. Do đó, quản lí là một hiện tƣợng xã hội xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời. Quản lí là nhân tố khách quan đƣợc ra đời từ bản thân nhu cầu của con ngƣời trong mỗi chế độ xã hội và không thể thiếu đƣợc trong đời sống con ngƣời.
Quản lí là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. Với nhiều cách tiếp cận ở các góc độ kinh tế, xã hội, giáo dục,. các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc đã đƣa ra những định nghĩa tƣơng đối đồng nhất về khái niệm quản lý. Theo nhà khoa học ngƣời Mỹ Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915), ngƣời đƣợc hậu thế coi là "cha đẻ của thuyết quản lý khoa học ", là ngƣời rất thành công trong quản lý sản xuất.
Ông đã thể hiện tƣ tƣởng cốt lõi của mình 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong quản lý : "Quản lý là khoa học đồng thời là một nghệ thuật thúc đẩy xã hội phát triển". Ông cho rằng: "Quản lý là biết đƣợc chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó hiểu đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [23, tr. 327] Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ quản lý, tuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau. Tác giả Trần Khánh Đức khẳng định "Quản lý là hoạt động có ý thức của con ngƣời nhằm phối hợp hành động của một nhóm ngƣời, hay một cộng đồng ngƣời để đạt đƣợc các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất" [18, tr.
328] Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: "Quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động(chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, (lãnh đạo) và kiểm tra" [13, tr.9] Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của ngƣời quản lý đến tập thể ngƣời bị quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu quản lý. Trong giáo dục nhà trƣờng đó là tác động của ngƣời quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lƣợng khác nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục. Với cách hiểu nhƣ vậy thì quản lí là một hệ thống gồm 3 thành tố cơ bản: Chủ thể quản lý: là nơi đƣa ra những tác động có mục đích, phù hợp với quy luật chung đến đối tƣợng quản lí nhằm phối hợp những nỗ lực của các cá nhân nhằm đƣa tổ chức tiến đến mục tiêu. Chủ thể quản lí có thể là cá nhân hoặc tập thể.
Đối tượng quản lý: là nơi chịu tác động và thay đổi dƣới những tác động có mục đích của chủ thể quản lí. Đối tƣợng quản lí bao gồm con ngƣời trong tổ chức và các nguồn lực khác trong và ngoài tổ chức. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mục tiêu quản lý: là hình ảnh mong muốn của tổ chức trong tƣơng lai, trong một giai đoạn và hoàn cảnh cụ thể, là trạng thái cần có của tổ chức để ổn định và phát triển. Mô hình về quản lý M«i tr-êng qu¶n lý C«ng cô qu¶n lý Chñ thÓ Kh¸ch Môc tiªu qu¶n lý thÓ qu¶n qu¶n lý lý Ph-¬ng ph¸p qu¶n lý Trong quan hệ quản lí, giữa chủ thể và khách thể thƣờng xuyên tồn tại các mối quan hệ qua lại, với những tác động có tính tƣơng hỗ lẫn nhau.
Chủ thể quản lí tạo ra các tác động quản lí, còn khách thể quản lí thì tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con ngƣời, thoả mãn mục tiêu của quản lí. Ngày nay, quản lí đƣợc coi là một trong năm nhân tố cho phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm: Vốn, nguồn lực lao động, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quản lí; trong đó quản lí đóng vai trò quan trọng, có tính quyết định cho sự thành công. Vậy, ta có thể định nghĩa một cách chung nhất về quản lí nhƣ sau: Quản lý là các tác động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực và phối hợp mọi nỗ lực của cá nhân để đưa tổ chức tiến đến mục tiêu đã xác định. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quá trình quản lí là quá trình hoạt động của chủ thể quản lí nhằm thực hiện hệ thống các chức năng quản lí (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) để đƣa hệ thống quản lí tới mục tiên đã dự kiến.
Mối liên hệ các chức năng quản lý đƣợc thể hiện qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1.