CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẦN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ngoài nước Van đẻ thiết bị dạy học vả quản lý thiết bị dạy học ở trường phổ thông nói chung va trường THCS nói riêng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm tử lâu. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới đây.
Bản về bị dạy học đa phương tiện, Qing và các cộng sự (2010) cho rằng, việc áp dụng thiết bị dạy học đa phương tiện cho phép giáo viên sử dụng mảy tỉnh da phương tiện vả các thiết bị khác để tương tác giữa người và máy nhằm hoàn thành mục tiêu dạy học [S3]. Nghiên cứu vai trỏ cúa thiết bị và phương tiện trong dạy học ban đầu vẻ robot của David và công sự (2012) đã cho thấy. các khái niệm vả mục tiêu giáo dục phụ thuộc đáng kể vào việc lựa chọn thiết bị được sử dụng trong chương trình day học. Còn Olufunke (2012) lại nhắn mạnh đến vai trò của các thiết bị dạy học đối với môn Vật lý ở trường THCS.K ết quả cho thấy việc sử dụng tối ưu thiết bị thí nghiệm Vật lý có hiệu quả trong việc giảng dạy bộ môn này.
Nghiên cứu kết luận rằng phòng thí nghiệm khoa học với đây đú trang thiết bị là yêu tố quyết định chất lượng đầu ra của môn ật lý ở các trưởng THCS |52]. Nghiên cứu của Wakuma (2018) đã đánh giá tác động cúa thiết bị thê thao trong việc tạo điều kiện cho quá trình dạy học giáo dục thể chất ở trường trung học Babala trong trường hợp của lima Rare wearda ở vũng Horo Guduru Wollega thuộc bang Oromia. Két qua nghiên cứu cho thấy cỏ những thách thức về cung cấp thiết bị dạy. học thê chất tại địa bản nghiên cứu.
Ban giám hiệu nhà trường thiểu chú trọng, thiếu sân thể thao rên luyện sức khóc cho học sinh cũng như giáo viên, thiêu sách tham khảo. trong thư viện, thiếu giáo viên chuyên môn Š khoa học thể dục thể thao vả thiểu trang thiết bị thể thao đầy đủ như bóng, sân thể dục, quần vợt vả bóng đá là vấn đề lớn của trưởng trung học tại Babala. Nghiên cứu cũng đề xuất các khuyến nghị trong công tác quan ly, đặc biệt là tăng cường các thiét bi day hoe thé chat [55] Trong khi đỏ. nghiên cứu cúa Sayan và cộng sự (2020) đã nhân mạnh đến việc.
sử dụng thiết bị dạy học trong việc giảng dạy môn Sinh học ở trưởng phỏ thông. Các tác giả cho rằng, giáo viên dạy sinh học nên chọn thiết bị phù hợp với môn học, trình độ học sinh, mục tiêu dạy học. Ngoài ra, giáo viên cần cung cấp cho học sinh những thông tin cần thiết vẻ tải liệu dạy học [54] Như vậy, điểm qua sự phát triển của lý thuyết về TBDH trong lịch sử giáo dục thể giới, có thê thấy rằng vai trò cúa TBDH trực quan đã được phát hiện và phát triển từ rất sớm. Các nhà giáo dục học đã chứng minh được rằng việc khuyến khích học sinh nhận thức thể giới thông qua chính những giác quan của mình lả phương pháp dạy học phủ hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ và do vậy nó là phương pháp hữu hiệu nhất giúp trẻ em phát triển tư duy, nhận biết hiện tượng và tiền tới nắm được bản chất của sự vật lên tượng.
Các nghiên cứu trong nước 'Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về TBDH và quản lý việc sử dụng TBDH. Về vẫn đề này, có thể kể đến các nhà khoa học Việt Nam tiêu biểu đã phát triển và truyền bá lý luận về nguyên tắc đạy học trực quan, đó lä các nhà tâm lý học Phạm Minh Hạc, Hồ Ngọc Đại: các nhà giáo dục học Tô Xuân Giáp, Vũ Trọng Rÿ. Trần Khánh Đức. Năm 2005, Chủ nhiệm đề tài Ngõ Quang Sơn đã bảo vệ thành công đề tài cấp ô về: “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quá sử dụng thiết bị giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin vả truyền thông tại các trung tâm GDTX và trung.
tâm học tập cộng đồng”: tác giá khẳng định vai trò quan trọng của TBDH trong các. hoạt động giảng dạy, giáo dục và học tập, đó là: ".TBDH lả một bộ phận. là một thành tổ không thể thiểu được của quá trình dạy, học tích cực. TBDH vừa là một thành tố, vừa là một phương tiện, một phương hướng, vừa hảm chứa nội dung của quá trình day học, đẳng thời tạo hứng thú nhận thức cho học viên.
TRDH là một trong những điều kiên giúp giáo viên và học viên thực hiện tốt phương châm đạy học phát huy tính tích cực của học viên, tích cực hoá quả trình nhận thức, quá trình tư duy của học viên lớn tuổi." 'Việc triên khai dạy học gắn với TBDH ở Việt Nam đã bắt đầu từ thời kì Pháp thuộc, khi các môn Khoa học tự nhiên bất đầu được đưa vào học trong nhà trường. Một trường đã có phỏng thí nghiệm cho các môn Lí - Hoá - Sinh và một số trưởng nghề đã có phòng học nghề. Tử năm 1975, với mong muốn đưa TBDH vào nhà trưởng, tác giá Nguyễn Giá Cốc đã ất “Mây ý kí bước đầu về việc xây dựng trường sở theo hệ thông phòng. bộ môn” [10], nêu rõ bán chất la sự thay đôi tô chức phỏng học là “Thay thế nguyên tic phan chia phòng học theo lớp bằng nguyên tắc phân chia phòng học theo bộ môn”.
Như vậy tính theo số liệu cúa kế hoạch dạy học lúc đó thì tổng số phòng học không đủ cho các lớp, vì vậy đề xuất của tác giả Nguyễn Gia Cốc do nhiều lí do chưa thực hiện được, Trong quá trình đổi mới giáo dục vừa qua, nhu cầu dạy học gắn với TBDH là xu thể tất yếu. Việc dạy và học trong các phỏng học bộ môn đã được triển khai vả thu được thành công trong rất nhiều tỉnh thành. Năm 2008 cũng đã có cuộc Hội thảo do. Dự án THPT tổ chức với sự tham gia của 63 tỉnh và báo cáo tham luận của 27 tỉnh “Quan lí, tổ chức, sử dụng và triển khai sử dụng phỏng học bộ môi 12].
Trong Hội thảo nghiên cứu quản lí TBDH được tập trung phân tích. Các tác giả có nhiều nghiên cứu về PHBM như tác giả Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Phạm Văn Nam đã đưa ra một số vẫn đề về lí luận vả thực tiễn PHBM đề đổi mới PPDH [35]. “Trong một số Luận văn Thạc sĩ về quản lí TBDH như: *Quản lí thiết bị dạy học. ở các trường Trung học phổ thông của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay” [49] của tắc giả Trần Thể Vinh, Luận văn Thạc sĩ Ngô Văn Bình với đề tải “Các biện pháp.
quản lí nhằm phát huy hiệu quả của tô chuyên môn tại trường Trung học phô thông chuyên Bắc Giang” [2] đề cập đến việc nâng cao hiệu quá của TBRDH. Bộ trướng Bộ Giáo dục - Đảo tạo ban hành Quy chế thiết bị giáo dục trong trường Mâm non, phổ thông kèm theo Quyết định số 41/2000, đây chính là cơ sở pháp. lí đầu tiên dé giáo dục Việt Nam đưa TBDH gắn liền với dạy học. Sau đỏ, Bộ GD&ĐT.
ra Thông tư số 19/2009/TT-BGD&ĐT ban hành danh mục thiết bị dạy học tôi thiểu cấp THCS. Có thể nói dạy học có TBDH đã bất đầu được thực hiện và triển khai ở Việt Nam. Đề triển khai Chương trình giáo dục phố thông 2018 và thay Sách giáo. khoa lớp 6, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 44/2020/TT-BGD&ĐT quy định danh mục thiết bị dạy học tối thiểu lớp 6.
Hiện nay, Bộ Giáo duc va Dao tao đã ban hành. Thông tư 38/2021/TT-BGD&ĐT ngày 30 tháng 12 năm 2021 về Danh mục thiết bị dạy học tối thiêu cấp THCS để có sự chủ động đầu tư từng bước theo lộ trình thay. sách giáo khoa. Như vậ „ cô thể nói rằng công tác quản lý TBDH có vai trò to lớn trong việc nang cao ¢ t lượng vả hiệu quá khai thác TBDH ở mỗi nhà trường.
Bởi vì, nó giúp các nhà quản lý có ¡ nhìn tông quan về trình độ, tốc độ phát triên TBDH và mức độ ảnh hưởng của nó tới công nghệ dạy học ở trong nước, khu vực vả trên thể giới. Đánh giá được thực trạng của TBDH, quá trình đâu tư, mua sắm, bảo quản và chất lượng sử dụng, khai thác TBDH ở nhà trường, từ đó hoạch định chiến lược phát triển TBDH một cách lâu đài lả việc làm hết sức cần thiết, cấp bách đối với CBQL ở các nhả trưởng. Cho đến nay việc nghiên cứu quản lý TBDH ở các trường THCS của huyện Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam chưa đề tài não để cập đến. Đây là lý do cứu một số biện pháp quản lý việc trang bị, bảo quản và sứ dụng hiệu quả TBDH ở các.
trường THCS của huyện Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam. Các khái niệm chính cũa để tài 1. Khải niệm quản lý giảo dực 2. Khéi niém Quan by Theo lí luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin về quản lí: “Quin li xã hội một cách.
khoa học là sự tác động cỏ ÿ thức của chủ thể quản lí đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”. Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Con người trong hoạt động. của mình, để đạt được mục tiêu cá nhân phải dự kiến kể hoạch, sắp xếp trình tự tiến hành và tác động ên đối tượng bằng cách nào đó theo khả năng của mình.
Trong quá trình lao động tập thể càng không thể thiếu được kế hoạch, sự phân công vả điều hành. chung, sự hợp tác và quản lý lao động. Như vậy quản lý tất yếu nảy sinh và nó chính. là một phạm trù tẳn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội.
mọi quốc gia, trong moi thai da Có nhiều quan điểm khác nhau vẻ quản lý. Ở góc độ quản lý với tư cách là một chức năng xã hội dưới dạng chung nhất thi quán lý được xác định là cơ chế đề thực hiện sự tác động có mục đích nhằm đạt được những kết quả nhất định. Đề cập đến hoạt é tưởng sâu sắc cúa K.Marx: “Một nghệ sĩ vỹ cằm thi tự điều khiển mình còn dẫn nhạc.